Du lịch Thừa Thiên Huế

Du lịch biển Thừa Thiên-Huế hút khách trong dịp Hè

posted Jun 30, 2012, 8:19 PM by An Bui   [ updated Jun 30, 2012, 8:19 PM ]

Thừa Thiên-Huế có bờ biển dài 128km với nhiều bãi biển đẹp; cùng với việc khai thác thế mạnh tự nhiên, tỉnh tổ chức nhiều lễ hội như Festival "Thuận An biển gọi," "Lăng Cô huyền thoại biển" và "Sóng nước Tam Giang"... để thu hút du khách về với các tour du lịch biển.

Trong những ngày Hè, có lúc nhiệt độ lên tới 40-41 độ C như hiện nay, các bãi biển thu hút hàng vạn lượt khách đến tắm biển, nghỉ dưỡng.

Tại huyện Phú Lộc, nơi có Lăng Cô là vịnh biển đẹp thế giới với bãi biển dài hơn 10km, cát trắng mịn, nước trong xanh, sạch, phong cảnh hữu tình, có nhiều loại đặc sản biển, đầm phá tươi, ngon, rẻ... cuốn hút đông đảo du khách.

Vào mùa Hè, các khách sạn phần lớn đạt công suất phòng trên 70%. Đến nay, toàn huyện đã có trên 50 khách sạn, khu nghỉ dưỡng với khoảng 900 phòng để phục vụ du khách, tập trung chủ yếu ở thị trấn Lăng Cô.

Ngoài Lăng Cô, còn có biển Cảnh Dương (Lộc Vĩnh), Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã và các khu nghỉ dưỡng sinh thái như Suối Voi, Bàu Ghè (Lộc Tiến), Suối Mơ... luôn thu hút du khách. Riêng các khu nghỉ dưỡng, Resort ven biển Lăng Cô công suất phòng đạt trên 90%, với hơn 70% lượng khách đến từ Hà Nội và các tỉnh, thành phía Bắc.

Nằm cách thành phố Huế khoảng hơn 10km, biển Thuận An là nơi hội tụ của hệ đầm, phá Tam Giang-Cầu Hai. Đây còn là nơi hợp lưu nhiều con sông lớn như sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu. Bãi biển ở đây thoáng rộng, có những đợt sóng mạnh rất thích hợp cho các trò chơi trượt nước, lướt ván... trên biển, đáp ứng nhu cầu cho những du khách thích cảm giác mạnh.

Mùa Hè, bãi biển Thuận An lúc nào cũng đông khách. Các dịch vụ ăn uống, giải khát và cho thuê áo tắm, phao bơi đang ngày càng được đầu tư để thoả mãn nhu cầu của khách, đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho người dân.

Ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên-Huế cho biết thời gian tới, tỉnh tập trung triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động trong Năm Du lịch quốc gia Bắc Trung Bộ-Huế 2012, phối hợp xây dựng và khai thác tốt các sản phẩm đặc trưng trong Năm Du lịch quốc gia, đặc biệt là các sản phẩm tận dụng được thế mạnh của các loại hình tài nguyên du lịch biển của Thừa Thiên-Huế.

Tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch, giới thiệu thương hiệu du lịch biển Thừa Thiên-Huế đến rộng rãi hơn với bạn bè trong nước và quốc tế.

Sáu tháng đầu năm nay, ngành du lịch Thừa Thiên-Huế đã đón hơn 1,3 triệu lượt khách; trong đó có 520.000 lượt khách quốc tế. Đáng chú ý, cảng biển Chân Mây đã đón 24 tàu du lịch với 30.000 lượt khách du lịch quốc tế đến Huế bằng tàu biển; tăng gấp 3,6 lần so cùng kỳ 2011. Doanh thu du lịch nhờ vậy đã đạt 1.065 tỷ đồng, tăng 26,2% so cùng kỳ năm trước./.

Quốc Việt (TTXVN)

Năm Du lịch quốc gia 2012: Có gì đãi khách?

posted May 17, 2012, 7:38 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:38 AM ]

(HNM) - Năm Du lịch quốc gia (DLQG) Duyên hải Bắc Trung bộ - Huế 2012 có chủ đề "Du lịch di sản" đã bắt đầu khởi động tại Thừa Thiên Huế với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào xuân. Đặt ra không ít kỳ vọng, mảnh đất cố đô - trung tâm của sự kiện đang cố gắng tạo dựng một điểm đến đặc sắc, hấp dẫn. Thế nhưng, làm thế nào để tạo được dấu ấn trong lòng du khách lại không phải chuyện dễ.

Bài học từ các kỳ tổ chức trước…

Tính từ năm 2003 đến nay đã có 8 kỳ Năm DLQG được tổ chức tại Quảng Ninh, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Thái Nguyên, Cần Thơ, Hà Nội và các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ - Phú Yên. Mục đích nhằm tuyên truyền, quảng bá cho điểm đến của địa phương đăng cai nói riêng và quảng bá cho hình ảnh du lịch Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, hoạt động của Năm DLQG hầu hết chỉ tập trung tổ chức lễ khai mạc hoành tráng, còn việc xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù thực sự lôi cuốn du khách chưa được như mong đợi. Vì thế, khi Năm DLQG qua đi không những không để lại tiếng vang cho địa phương mà ngay cả việc tạo dựng dấu ấn của điểm đến đó đối với du khách cũng mờ nhạt.

Báo cáo thống kê sau mỗi kỳ tổ chức Năm DLQG ở cả những địa phương có tiềm năng hay đang "chập chững" phát triển du lịch đều mang đến những tín hiệu đáng mừng cho ngành "công nghiệp không khói" nước nhà khi lượng khách trong và ngoài nước đều tăng mạnh. Thế nhưng, tính riêng lượng khách được mời tới tham dự hàng chục sự kiện lớn, nhỏ diễn ra xuyên suốt trong Năm DLQG, dễ dàng nhận thấy, con số trên cũng đủ góp phần làm cho lượng khách du lịch của địa phương đó tăng đột biến. Về vấn đề này, đại diện nhiều công ty lữ hành có chung nhận xét, để khai thác tiềm năng, phát triển du lịch bền vững và lâu dài, các địa phương đăng cai tổ chức Năm DLQG cần tập trung xây dựng tốt cơ sở hạ tầng, các điểm du lịch và tạo ra những sản phẩm độc đáo mang bản sắc vùng, miền.

Mặt khác, để "nuôi dưỡng" những sản phẩm du lịch lâu dài, ngành du lịch mỗi địa phương cần tăng cường quảng bá thông qua việc tổ chức các đoàn khảo sát cho hãng lữ hành và giới truyền thông trong nước cũng như quốc tế. Thế nhưng các địa phương lại tổ chức Năm DLQG theo kiểu chỉ "nhăm nhăm" đầu tư công sức, tiền của cho lễ khai mạc và bế mạc thật rùm beng và tốn kém. Cùng với đó là hàng loạt các hoạt động, sự kiện bên lề đơn lẻ, rời rạc, thiếu sức "hút". Sau khi những hoạt động đó qua đi, cảnh chất lượng dịch vụ yếu kém, môi trường ô nhiễm, sản phẩm du lịch nghèo nàn, du khách bị đeo bám, "chặt chém"... lại hoành hành.

Năm DLQG 2011 được trải đều ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, nơi được xem là có nhiều tài nguyên du lịch biển, đảo, các di sản văn hóa và sự đa dạng về sinh thái, môi trường. Lượng du khách đạt đến 12 triệu lượt, trong đó, khách quốc tế đạt hơn 2,68 triệu lượt, thu nhập từ du lịch đạt khoảng 12 nghìn tỷ đồng (tăng 25%) nhưng sản phẩm du lịch vẫn đơn điệu, liên kết du lịch vùng chưa chặt chẽ… Ngoại trừ hai địa phương là Đà Nẵng và Khánh Hòa đã tạo được thương hiệu du lịch biển, các tỉnh còn lại đều chưa tạo được bước đột phá. Nguyên nhân do đầu tư dàn trải, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình hoạt động du lịch, vì hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ. Đặc biệt, các địa phương tuy thực hiện liên kết, nhưng lại thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp, liên kết giữa doanh nghiệp và chính quyền.

Cố đô Huế có tạo được bước đột phá?

Với chủ đề "Du lịch di sản", Năm DLQG 2012 gắn với Festival Huế là sự kiện văn hóa có tầm quốc gia, mang tính quốc tế đang đặt ra bài toán: "Phải làm gì để đưa giá trị di sản Việt Nam trở thành điểm đến đầy màu sắc, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước?". Cùng với việc đầu tư chỉnh trang đô thị, tập trung các nguồn lực vào xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch trọng điểm, trùng tu các di tích quan trọng nhằm mở rộng phạm vi tham quan, để kéo du khách ra khỏi những điểm đến truyền thống quen thuộc như khu nội đô, các lăng tẩm, ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở VH,TT&DL Thừa Thiên Huế khẳng định, trong năm 2012, Thừa Thiên Huế sẽ đem đến cho du khách những hành trình trải nghiệm mới với việc liên kết đầu tư xây dựng một số sản phẩm du lịch độc đáo, đặc sắc, chất lượng cao.

Đặc biệt, Thừa Thiên Huế sẽ khai thác các tài nguyên du lịch mới bằng việc tập trung vào dòng sản phẩm như lễ hội độc đáo (vật làng Sình, vật làng Thủ Lễ…); du lịch văn hóa tâm linh (hệ thống chùa Huế, Thiền viện Trúc Lâm - Bạch Mã, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân…) cùng với việc liên kết khai thác các sản phẩm du lịch di sản văn hóa, truyền thống. Ngoài ra, sản phẩm du lịch dựa trên quá trình sản xuất thủ công ở các làng cổ cũng sẽ được quan tâm như làng cổ Phước Tích, Bao La, Thanh Tiên, Thủy Thanh… Bên cạnh đó, du lịch kết hợp chữa bệnh tại các khu nước khoáng, các loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc ít người, hay du lịch gắn với nghệ thuật ẩm thực cung đình, dân gian… cũng là những sản phẩm du lịch được nhắm đến trong năm 2012 của Thừa Thiên Huế. Với những gì ngành du lịch Thừa Thiên Huế đang cố gắng tạo dựng, hy vọng sẽ mang đến những sản phẩm thực sự hấp dẫn du khách, đồng thời tạo sự đột phá trong Năm DLQG 2012.


Theo Xuân Lộc / Báo Hà Nội Mới

Một làng cổ đang ngủ yên

posted May 17, 2012, 7:27 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:27 AM ]

Trên dòng chảy sông Hương, trong hình sông thế núi, trong tiến trình lịch sử, cả trong đời sống văn học và tâm linh, xã Thủy Biều, thành phố Huế, có một vị trí đặc biệt ít được nhận biết để tìm hiểu, nhận thức và có chiến lược khai thác một cách hiệu quả trong đời sống đương đại.

Là một trong năm xã ngoại thành, nằm ở rìa Tây - Nam thành phố, ba bề bao bọc bởi sông Hương, phía Đông giới hạn bởi đường Huyền Trân Công Chúa, tiếp giáp xã Thủy Xuân, không một địa chỉ nào của thành phố Huế có được ưu thế tiếp cận dòng sông này từ nhiều góc độ khác nhau, từ chiều rộng đến chiều cao - xét về góc nhìn thị giác - phong phú đến như vậy.

“Belvédère”, một lầu canh được xây dựng từ thời Pháp thuộc nằm trên đồi Vọng Cảnh, một địa điểm chiêm ngưỡng sông Hương cuốn hút du khách khi đến Huế, và cũng từng gây sóng gió trong dư luận cả nước về một ý tưởng có phần vội vã trong chủ trương đầu tư.

Xung quanh Thủy Biều là một vành đai danh lam thắng cảnh và các công trình nổi tiếng cố đô.

Ngoài sông Hương huyền hoặc chảy vòng quanh xã - và lại chính là khúc quanh đẹp nhất - trong địa bàn xã đã có đồi Vọng Cảnh, gần đấy là lăng Tự Đức. Bên kia sông, từ đồi Vọng Cảnh nhìn sang là điện Hòn Chén nổi tiếng.

Cũng bên kia sông, Văn Miếu, Võ Miếu và danh thắng Thiên Mụ, còn bên này sông là Long Thọ cương, hai địa danh từ lâu đã đi vào ca dao: “Gió đưa cành trúc la đà/Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ cương”. Trên bờ tả ngạn sông Hương kéo dài từ điện Hòn Chén đến Văn, Võ Miếu là địa phận của hai xã Hương Hồ, Ngọc Hồ xanh mướt tre cau soi bóng xuống lòng sông.

Làm nền cho cảnh quan thanh bình ấy là chập chùng những rừng thông như sóng nhấp nhô kết thúc tầm nhìn với núi Kim Phụng sừng sững trấn giữ một phương trời.

Ngay trên địa bàn xã còn nhiều di tích chưa được khai thác đúng mức: “Hổ quyền”, “Điện Voi ré”, “Thành Lồi”... cần được đánh thức để sớm đưa vào sự nghiệp phát triển văn hóa, du lịch.

Ngay cả Nhà máy xi măng Long Thọ hiện nay, một cơ sở công nghiệp già nua, cũ kỹ đang ngày đêm phun khói lên nền trời thành phố, đã đến lúc cần sớm được di dời. Địa điểm này hoàn toàn có thể dành cho một khách sạn du lịch tầm cỡ bên bờ sông Hương mà về mặt văn hóa, cảnh quan, chắc chắn ưu việt hơn một nhà máy nhỏ đang làm nhiễm bẩn không chỉ bầu không khí trong lành mà còn làm vẩn đục cả cảnh quan thơ mộng của sông Hương. Còn về kinh tế, nếu so sánh kỹ, thu nhập tổng thể chắc gì đã thấp hơn giá trị sản lượng mà nhà máy này đang đóng góp?

Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nguyệt Biều, Lương Quán (hai trong số bảy thôn của Thủy Biều) đã hiện hữu trong một câu ca xưa đầy bí ẩn: “Bất thực Lương Quán kê/ Bất giao Nguyệt Biều hữu…?” trong “tứ bất…” đang là những ẩn số cần được giải mã.

Trên địa bàn Thủy Biều hiện còn vết tích của một dòng sông cổ: “ông Lý Nhân”, nay đã bị bồi lấp thành một dãy ao chuôm liên hoàn với những cụm cổ thụ lâu đời có giá trị cảnh quan và khoa học.

Nguyệt Biều - Lương Quán không xa/Cách một con hói hóa ra hai làng. Thảm thực vật, những cụm cổ thụ và dòng sông này nếu được tôn tạo, chỉnh trang, sẽ mang lại nhiều giá trị cảnh quan trong khai thác du lịch với đầu tư thấp.

Một trong những giá trị nổi bật của Nguyệt Biều, Lương Quán chính là đặc sản thanh trà.

Không biết từ bao giờ, trái “thanh trà Nguyệt Biều” đã trở thành một đặc sản “không nơi nào có được”. Phải chăng đây là một trong những sản phẩm địa phương mà thời vàng son của nó đã từng cung ứng cho đời sống cung đình, hay một giống bưởi quý được di thực từ nơi khác đến, thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng.

Tiếc thay, trái quý thanh trà nay đã thoái hóa, không còn giữ được phẩm chất của ngày xưa. So với thời vàng son, trái thanh trà giờ đây bé lại, da dẻ không còn được mỡ màng như trước, nhiều hạt và hạt to, múi cũng khô xác và mất đi khá nhiều phẩm chất vốn có. Vì sao? Rất có thể do bị lãng quên, do thiếu chăm bón, thiếu thị trường, không mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người trồng và còn có thể do nhiều nguyên nhân nữa.

Nhưng dù bất cứ vì lý do gì, để cho trái thanh trà Nguyệt Biều bị thui, chột, thoái hóa cũng là đắc tội với tiền nhân.

Trải bao biến động, thăng trầm của thế cuộc, kể cả hai cuộc chiến tranh lâu dài và thảm khốc, Nguyệt Biều, Lương Quán dường như rất ít bị tác động. Diện mạo gần như nguyên vẹn bộ mặt một làng quê trù phú ven đô như thời các chúa Nguyễn vào Nam mở đất, hay khi kinh đô Phú Xuân còn ở giai đoạn vàng son.

Những khu vườn xinh xắn, ngăn nắp liên tiếp kề nhau, những nếp nhà nông thôn yên bình cư ngụ trong một thiên nhiên xanh rờn hoa trái. Vườn gần như không rào. Những hàng cây xén thấp, phân định vườn nọ với vườn kia, chỉ có giá trị tượng trưng. Đường làng lát bê tông phẳng lỳ, sạch bóng. Không một chiếc lá rụng.

Mùa xuân, cảnh quan hai làng Nguyệt Biều, Lương Quán trắng xóa màu hoa bưởi ngát thơm. Một hương thơm tinh khiết của đất trời trong tiếng ong bay từ bốn phương về hút mật. Mùa Thu, tháng Bảy, tháng Tám, những cây thanh trà trĩu quả, vươn cành phủ rợp đường làng, lủng lẳng, đong đưa trên đầu du khách. Cảnh thanh bình cứ như đời Nghiêu - Thuấn vậy. Có một cái gì đó trong kho tàng văn hóa làng quê còn được bảo lưu, vẫn hiện hữu trong nếp sống ngàn xưa của Nguyệt Biều, Lương Quán?

Một giá trị hiếm hoi khác của Thủy Biều đang bị lãng phí một cách oan uổng, đấy chính là một khu đồi đất ở cuối làng: “Động Bàu Hồ”.

Động Bàu Hồ là một dãy đồi núi đất ven sông Hương, chiều dài dọc sông khoảng gần 1.000m (960), rộng 520m, cao gần 60m (57,1).

Khác với đồi Vọng Cảnh - trong tương quan với sông Hương - từ lâu đã là một trong những danh thắng của Huế, khu động Bàu Hồ nay là một khu nghĩa địa dày đặc mồ mả! Xét về phương diện cảnh quan, khu động Bàu Hồ có tầm nhìn còn đẹp hơn khu Vọng Cảnh nhiều lần. Do độ cao vượt trội, một phía là sông Hương, phía còn lại là một thung lũng ngăn cách với dãy đồi Long Thọ. Vì vậy, đứng trên động Bàu Hồ, người ta có thể nhìn ra bốn phía, tầm mắt hoàn toàn được giải phóng, không có bất kỳ một vật cản nào làm khuất lấp.

Từ đây, tầm nhìn phóng đến Thuận An, đến phá Tam Giang, ra đến biển. Bên kia sông là Long Hồ, Ngọc Hồ, những bờ bãi, làng mạc xanh mướt ven sông Hương. Thấp thoáng điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ và cả thành nội, cầu Tràng Tiền. Núi Kim Phụng gần như hiện hữu trong mọi hướng, còn xa hơn, ở cuối tầm nhìn là trùng điệp Trường Sơn. Đứng ở đây thấy Huế gần như nằm trong vòng tay ôm ấp của xanh biếc núi non. Về phía Bắc, bằng mắt thường có thể nhìn thấy khu công nghiệp Văn Xá, và xa hơn nữa.

Không một địa điểm nào ngắm sông Hương, ngắm Huế đẹp bằng Bàu Hồ. Nếu biết đầu tư, Bàu Hồ sẽ là một trong những danh thắng nổi bật của Huế thu hút khách du lịch, tham quan, không có nơi nào sánh kịp.

Theo NGUYỄN TRỌNG HUẤN
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Thời của biệt phủ ở Huế

posted May 17, 2012, 6:23 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 6:23 AM ]

Ngoài mười biệt phủ đã đón khách du lịch, hiện còn mười biệt phủ nữa đang và sắp được xây dựng. Những biệt phủ này nằm ở vị trí đắc địa trên một đoạn đường có chiều dài 4 km qua địa phận xã Thủy Bằng, phía Tây Nam TP Huế.

Những quả đồi ở xã Thủy Bằng (huyện Hương Thủy - TP Huế) trước đây có giá rẻ như cho nay bỗng dưng đắt như vàng. Ở Huế đang rộ lên phong trào lên đồi lập biệt phủ. Mỗi phủ mỗi vẻ, mỗi thế mạnh riêng, song đã góp phần làm cho bức tranh du lịch Huế thêm phong phú, hấp dẫn du khách thập phương.

Xã Thủy Bằng nằm về phía Tây Nam TP Huế có chiều dài đến 17 km, chạy men theo Tỉnh lộ 13. Địa hình vùng này chủ yếu là những quả đồi có dạng hình bát úp. Đất đai rộng rãi nên có nhiều gia đình đang sở hữu cả quả đồi, họ sẵn sàng bán khi có người hỏi mua.

Bỏ phố lên đồi núi

Ven theo đồi thông vi vu trong gió rồi rẽ vào một con đường nhỏ dài chừng 200 m, sỏi đá lởm chởm, anh Tuấn, cán bộ xã Thủy Bằng, chỉ tay về phía mấy ngôi nhà lọt thỏm giữa rừng cây nói: “Biệt phủ Bội Trân đây rồi”. Đẩy nhẹ cánh cổng, một phụ nữ bước ra chào khách. Anh Tuấn giới thiệu: “Bà Bội Trân, chủ nhân biệt phủ”.

Pha nước chè xanh đón khách, bà Bội Trân kể năm 1999, khi mua đất dựng phủ giữa rừng thông nhiều người ở thôn Thư Chánh 1 bảo điên hay sao mà bỏ phố phường lên ở giữa rừng. Đáp lại, bà chỉ cười và nghĩ rằng không gì tuyệt bằng được sống và làm bạn với rừng thông trăm tuổi.

Biệt phủ Bội Trân rộng 5.000 m2. Để có khu vườn xinh tươi này, bà Bội Trân đã bỏ ra không biết bao công sức, trí tuệ. Bà kể hồi mới xây dựng phải đổ vào hàng trăm khối đất phù sa mới trồng được cây xanh. Kỳ công hơn, bà mua nguyên ngôi nhà sàn từ Mai Châu, Hòa Bình rồi đưa vào Huế dựng lại trong khu vườn của mình.

Biệt phủ Bội Trân có rất nhiều cây trên trăm tuổi như những lão mai, vạn tuế, thiên tuế... Cái độc đáo của biệt phủ Bội Trân là cách bố trí cụm cây tạo thành những bức tranh mang đường nét hội họa. Cạnh ngôi nhà chính là một ngôi nhà cổ chạm trổ tỉ mỉ. Đây là không gian dành riêng trưng bày tranh mỹ thuật và hiện vật cổ hàng trăm năm tuổi từ thời văn hóa Đông Sơn, đến hiện vật thời Đinh, Lê, Lý, Trần, cũng như những hiện vật mang phong cách kiến trúc Chăm, đó là các pho tượng tròn tuyệt tác.

Không nằm giữa đồi thông nhưng biệt phủ Thảo Nhi lại gần mặt tiền Tỉnh lộ 13. Chủ nhân biệt phủ - ông Trần Đài - kể năm 2001, gia đình ông mua lô đất này với giá 500 triệu đồng. Từng một thời lái xe du lịch, nắm bắt được nhu cầu của khách phương Tây khi đến Huế không muốn ăn ngủ tại khách sạn ở TP mà muốn được nghỉ ngơi trong khu vườn rợp mát bóng cây nên ông Đài lên đồi dựng biệt phủ.

Anh Abel David, một du khách người Anh, nói: “Tôi đến biệt phủ Thảo Nhi theo giới thiệu của một người bạn vừa trở về sau chuyến du lịch ở Huế. Thật là tuyệt vời khi bạn được nghỉ ngơi trong một khu vườn như thế này”.

Cung đường biệt phủ

Tỉnh lộ 13 chạy từ TP Huế lên phía Tây Nam đang được mệnh danh là cung đường “vàng” hay cung đường biệt phủ. Đây là tuyến đường lên lăng Minh Mạng, Tự Đức và nhiều điểm tham quan khác. Ngoài hai biệt phủ nổi bật trên, cung đường này còn có nhiều biệt phủ khác như trà đình Vũ Di, biệt phủ của Quang Dũng, biệt phủ Nguyễn Đức Huy... Ông Phùng Viên, Chủ tịch UBND xã Thủy Bằng, cho biết đa số biệt phủ dựng lên đều đón khách trên tuyến đường tham quan du lịch...

Chuyện lập biệt phủ “nóng” đến mức huyện Hương Thủy đã đưa vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội. Huyện này quy hoạch thêm hơn 2 ha đất ven Tỉnh lộ 13 để các cá nhân, tổ chức đấu giá đất xây biệt phủ du lịch. Chỉ tay ra phần đất “vàng” ven Tỉnh lộ 13, ông Phùng Viên nói: “Phần đất dự trù xây thêm biệt phủ được đấu giá xong hết rồi. Các chủ nhân trúng nền đã san ủi mặt bằng, sắp tới sẽ có thêm nhiều biệt phủ nữa ra đời đón khách du lịch”.

Theo LINH AN - Người Lao Động

Theo Tuoi Tre Online

Những làng nghề bên phá Tam Giang, Huế

posted May 17, 2012, 6:21 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 6:21 AM ]

Phá Tam Giang, nơi hội tụ của sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu trước khi đổ ra biển Đông theo hai cửa Thuận An và Tư Hiền từ lâu vốn là nguồn cảm hứng cho thi ca, nhạc họa. Không những thế, trên những vùng đất trù phú hai bên phá, các làng nghề truyền thống đã góp phần làm cho văn hóa đất Cố đô thêm phần đặc sắc.

Bắt đầu từ Thuận An, nơi con sông Hương hòa mình vào biển rộng, chúng tôi làm một cuộc viễn du xuôi theo dòng Hương, ngược về ngã ba Sình để viếng thăm những làng nghề nằm ven sông Hương, sông Bồ yêu thương.

Qua khu phố chợ Bao Vinh một thời vang tiếng, nơi mà từ bao đời nay, cứ mỗi độ xuân về lại trở thành nơi tề tựu tấp nập, đông vui của người dân các xã: Hương Vinh, Hương Toàn, Hương Phong (Hương Trà); Quảng Thành (Quảng Điền); Phú Mậu (Phú Vang)… chúng tôi đến với thôn Địa Linh (Hương Vinh, Hương Trà), vùng đất nổi tiếng bởi là địa linh nhân kiệt.

Đặt chân lên vùng đất một thời được gọi bằng cái tên yêu mến là làng chạm cẩn. Khắp làng, bản hợp xướng chạm gõ “lách cách” mộc mạc của những đường kỷ hà đang nảy nở dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vang lên. Dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân vô danh, những bức tượng gỗ trở nên sống động, có hồn.

Không chỉ có nghề chạm cẩn mà còn có một nghề truyền thống khác, đó là nghề làm bài tới. Bình thường chỉ một vài nhà làm đi bán ở các chợ lẻ. Nhưng, cứ mỗi độ mùa xuân ngấp nghé đầu ngõ là không ai bảo ai, cả làng lại bày giấy, con dấu, máy in, máy cắt… để làm bài tới, chuẩn bị cho một trò chơi dân gian không thể thiếu trong những ngày xuân.

Qua khỏi thôn Địa Linh là về làng Thủy Tú. Bởi sông Bồ mang nặng yêu thương nên cứ miệt mài bồi đắp phù sa cho những vùng đất mình đi qua như một sự hiến dâng lặng lẽ. Cũng chính nhờ bãi sông ăm ắp phù sa màu mỡ ấy mà làng Thủy Tú trở thành làng gạch ngói, bao năm tô màu đỏ tươi cho vẻ đẹp của phố xá.

Không chỉ là một nghề thuần túy, nghề làm gạch ở Thủy Tú còn được xem là một nghề sống chết của dân làng bởi phần lớn người dân nơi đây đều sống dựa vào nghề, từ những bà mẹ nông dân chân lấm tay bùn đến những đứa trẻ lớn lên trong gia đình nghèo khổ muốn kiếm thêm chút thu nhập để đến trường.

“Ơi o bán cốm hai lu
Có về An Thuận cho tui về cùng”

Men theo câu ca này, chúng tôi lại về làng An Thuận. Chỉ cần nghe câu hát ngọt ngào văng vẳng, cũng đủ để chúng ta cảm nhận được hương vị thanh tao mà đậm đà của đặc sản vùng đất này: cốm dẹp.

Không như cốm làng Vòng (Hà Nội), cốm An Thuận có nét đặc trưng riêng, cũng chế biến công phu, cũng chắt lọc cái hương vị tinh tế của trời đất nội cỏ An Nam, cũng mang cái vị tinh khiết của lúa nếp đang kỳ ngậm sữa, nhưng cốm dẹp An Thuận còn có thêm cái vị gừng cay nồng đặc trưng của xứ Huế, cái thơm bùi của mè, đậu phụng và cả cái tâm thơm thảo người dân vùng chiêm trũng nghèo nàn.

Cũng đã khá lâu rồi, người dân An Thuận không còn sống nhờ vào cái nghề làm cốm dẹp. Thế nhưng, nghề làm cốm không vì thế mà dần mai một. Với các o, các mệ ở vùng đất này, đã là con gái An Thuận là phải biết làm cốm.

Cứ mỗi độ xuân về, nhà nhà lại bắt đầu chuẩn bị cho một khuôn cốm mới ra lò. Trong cái se se lạnh của những ngày đầu xuân, trong không khí ấm áp của buổi gặp mặt đầu năm, không có gì thú vị bằng vừa tâm sự vừa uống một ly trà thật thơm, thật nóng và thưởng thức cái vị tinh khiết, nồng ấm của những miếng cốm giòn tan.

Làng Bao La Ngoài tức là thôn Thủy Lập hay còn gọi là làng thúng mủng. Làng có 380 hộ, và hiện cả làng vẫn gìn giữ nghề đan lát truyền thống.

Hơn trăm năm trước, một số bà con trong làng Bao La gồng gánh gia đình theo đuôi con cá ra ngụ ven phá Tam Giang và dừng chân trên thôn Thủy Lập này. Bà con sống trên đất mới tuy vẫn cày cấy trên đất cát bạch sa, nhưng thêm nghề đánh cá, tôm, cua trong đầm phá và lưu giữ nghề đan lát mây tre truyền thống. Mới đầu, họ vẫn đan giần, sàng, rổ, rá như trong làng cũ, sau vì nhu cầu sinh sống ven đầm phá, bà con chuyển sang đan thúng, mủng.

Muốn đan được một cái thúng không phải là đơn giản, người dân phải lặn lội qua Phò Trạch, An Lỗ mua lồ ô. Cưa lấy đoạn gộc vót vành tròn lót trong, vót vành ngoài lép, đoạn giữa chẻ nan vót láng đan mên, khúc đọt chẻ mảnh hơn, nhỏ hơn để đát thành miệng thúng. Lận vành phải người lớn quen tay mới làm được. Nức vành thúng phải nức lật đôi, thúng nhỏ nức dày 90 nức lật, thúng lớn thì nức trăm hai, trăm ba nức lật, cái thúng mới chắc nụi.

Người làng Bao La xưa có truyền thống gả con gái cho các chàng lực điền trong thôn vì không muốn nghề đan lát mây tre bị thất truyền. Ngoài ra, những chàng rể được chọn khi quăng mạnh thúng phải bung vành ra. Với hành động đó, các cụ muốn đánh giá tài đan lát của các chàng rể ở độ khít khao, chắc bền của tấm mên.

Còn rất nhiều làng nghề bên phá Tam Giang mà mỗi làng đều có một nét đặc trưng riêng, không lẫn vào đâu nên du khách khi một lần ghé qua đều nhớ mãi...

TRẦN QUANG HÀO

Theo Tuoi Tre Online

Lên rừng tắm suối, Huế

posted May 17, 2012, 5:52 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 5:52 AM ]

Trong cái nắng nóng đầu hè miền Trung như đổ lửa buổi giữa trưa, chúng tôi tìm đến suối Voi để được ngâm mình trong dòng nước mát lạnh.

“Suối Voi trước đây là khe Mệ, có chiều dài hơn 9km, bình độ thoai thoải dốc, lòng suối khá rộng. Xuất phát từ đầu nguồn của dãy núi răng cưa, là hợp lưu của nhiều con suối nhỏ và thác ghềnh phía thượng lưu hợp lại nên nước khe Mệ rất dồi dào. Hằng năm vào mùa lũ do lượng nước quá mạnh đã tạo nên những hồ nước sâu cố định và nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp” - ông Nguyễn Thanh Tâm, chủ nhiệm Hợp tác xã Song Thủy, đơn vị quản lý khai thác khu du lịch sinh thái Suối Voi, cho biết. Đó là một quần thể có nhiều đoạn suối đá tuyệt đẹp, nằm ven cánh rừng thuộc địa phận xã Lộc Tiến, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế.

Phía đầu nguồn của suối là mấy thác nước lớn từ những cánh rừng nguyên sinh của dãy Trường Sơn đổ về, tung bọt trắng xóa. Hạ lưu của dòng suối này tiếp giáp với biển Đông qua cửa biển Cảnh Dương. Đặc biệt, nước ở đây trong veo như nước suối đóng chai. Mùa hè có lẽ là thời điểm lý tưởng để đến suối Voi vừa tắm táp, bơi lội thỏa thích, ngâm mình dưới dòng nước mát lạnh, vừa nghe tiếng suối reo, chim hót...

Nhiều người dân nơi đây cho biết địa danh Suối Voi do dân gian đặt có từ thời xa xưa. Có lẽ từ ngày xưa, nhiều hồ nước sâu ở đây rất lý tưởng và thuận lợi cho đàn voi rừng kéo nhau về sinh sống. Nhưng qua thời gian bị chiến tranh tàn phá, tác động của con người, hệ sinh thái nơi đây thay đổi, không phù hợp cho đàn voi sinh sống nữa, chúng lần lượt di cư. Hiện nay, cách một quãng đường chưa đầy 2km tính theo đường suối, chúng tôi còn thấy một vùng chuối rừng (loại thức ăn chính của voi) vẫn đang xanh tốt, bạt ngàn... mà người dân địa phương đặt tên nơi này là khe Chuối. Đến đây du khách có thể chiêm ngưỡng dòng suối trong xanh chảy qua những khối đá lớn màu đen mốc như bầy voi đang lội nước.

Du lịch sinh thái cộng đồng làng quê

Bà con cho biết dân cư nơi đây chủ yếu làm nghề nông, cuối mùa vụ thường rủ nhau từng nhóm lên suối bắt ếch, mò cua đá, giăng câu... chế biến những món ăn dân dã và thoải mái ở lại suối vài ngày thỏa thích với thiên nhiên, quên đi bao nỗi ưu tư vất vả của đời thường.

Đến năm 1996, suối Voi chính thức được chính quyền địa phương cho phép khai thác du lịch theo mô hình sinh thái là hợp tác xã nông nghiệp. Hiện nơi đây có hơn 20 hộ dân đăng ký kinh doanh bán hàng ăn uống, giải khát, nhiếp ảnh... tạo việc làm cho hơn 50 lao động. Tuy vậy, đến nay Suối Voi mới được khai thác theo hướng sinh thái một đoạn chừng hơn 1km: hai bên bờ suối là khu nghỉ dưỡng tranh tre nứa lá với thực đơn toàn những món ăn đặc sản miền Trung rất hấp dẫn.

Điểm du lịch cộng đồng làng quê này chỉ hoạt động năm tháng/năm. Từ đầu tháng 4 hằng năm các hộ dân có thời gian một tháng chuẩn bị dựng sạp, làm chòi ven suối để đến 30-4 bắt đầu đón khách. Ông Nguyễn Thanh Tâm cho biết: “Đã làm du lịch sinh thái thì càng không được đụng đến môi trường sinh thái. Hơn nữa, nơi đây chỉ có dịp hè là cảnh quan thiên nhiên đẹp và an toàn nhất. Vào những mùa khác, khu vực này thỉnh thoảng có lũ về rất nguy hiểm”.

Khi chúng tôi đến, khu Suối Voi đang có ba khu nhà nghỉ kiên cố với phòng nghỉ tiện nghi. Nhiều du khách bảo đến đây khoái nhất là ngâm mình dưới dòng suối mát suốt ngày, và ngủ lại đêm ngay tại các chòi tre ven suối để tận hưởng cảm giác mát mẻ của thiên nhiên... Suối Voi nằm ngay trong rừng, chúng tôi thấy còn rất nhiều cây đại thụ. Ở bãi đu có nhiều dây leo chằng chịt cỡ bắp tay người lớn có thể ngồi và đánh võng từ bờ bên này suối qua bờ bên kia.

Đêm đến có người rủ chúng tôi đi câu cá, bắt ếch. Thì ra nơi đây còn có rất nhiều loại cá như rường, bóp, trèn...; đặc biệt lấy nước suối này để nấu thì rất ngon, trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng. Suối Voi còn được nhiều người dân miền Trung biết đến với món gà. Gà cũng phải nấu, chế biến bằng chính nguồn nước suối Voi mới tuyệt.

TRẦN HUỲNH

Theo Tuoi Tre Online

Bên cầu Phú Cam xứ Huế

posted May 17, 2012, 2:21 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 2:21 AM ]

Cầu Phú Cam bắc ngang con sông đào An Cựu, cách cồn Dã Viên của sông Hương về phía Nam chừng hơn một cây số. Vào thế kỷ XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, khu vực này là phủ, là chỗ ở dành cho các vương tử, rồi được gọi là Phú Cam. Đây cũng là nơi có làng nghề làm nón nổi tiếng lâu đời của Huế.

Đi theo đường Nguyễn Trường Tộ đến cầu Phú Cam rồi qua cầu một đoạn, những du khách yêu thích kiến trúc sẽ tìm thấy hai công trình đẹp đáng tham quan là Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam và chùa Quốc Ân.

Ngay chân cầu Phú Cam có một đoạn dốc ngắn dẫn lên Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam. Nhà thờ tọa lạc trên một ngọn đồi thấp. Đi từ xa đã thấy hai ngọn tháp chuông cao vút in lên nền trời trong xanh ẩn hiện sau những tán cây. Đây là một trong những giáo đường lớn và lâu đời nhất của cố đô.

Được xây dựng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVII, sau ba lần bị phá hủy toàn bộ, năm 1963 nhà thờ được xây dựng lại và đến năm 1995 mới cơ bản hoàn thành. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã thiết kế thánh đường theo lối kiến trúc hiện đại vẫn trang trí theo phong cách nghệ thuật cổ điển của phương Tây. Dáng vẻ thanh thoát nhẹ nhàng cùng với vị trí ở trên cao của nhà thờ khiến du khách khi ngắm nhìn từ xa cũng đã cảm thấy lòng thư thái hơn.

Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá. Các trụ đỡ được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Lòng nhà thờ rộng, có thể chứa được 2.500 người đến dự lễ. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên, bên trong nhà thờ cung cấp ánh sáng cho nội thất. Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.

Ra khỏi con dốc nhà thờ rồi rẽ trái theo đường Nguyễn Trường Tộ, đi thêm chừng 2km du khách sẽ gặp một ngôi chùa cổ nằm tại chân đồi. Đó là chùa Quốc Ân, một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Huế và cũng là công trình kiến trúc mang dấu ấn văn hóa Phật giáo của nhiều thời kỳ lịch sử qua nhiều lần trùng tu.

Mái chùa nâu sẫm nằm trầm mặc giữa khuôn viên rộng thênh thang mướt xanh cây cối. Xung quanh chùa cũng là dải đồi xanh yên ả. Chùa được tổ sư Nguyên Thiều (người ở Triều Châu, Quảng Đông) xây vào khoảng năm 1683-1684. Thời ấy, chùa Quốc Ân là một ngôi tổ đình danh tiếng bậc nhất và có vai trò lịch sử rất quan trọng đối với quá trình phát triển Phật giáo xứ Đàng Trong.

Kiến trúc chùa Quốc Ân theo kiểu chữ khẩu truyền thống của xứ Thuận Hóa xưa. Chùa hiện lưu giữ được nhiều tượng khí và pháp khí xưa quý từ thời khai sơn cho đến nay, chẳng hạn bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Phật Thích Ca được chú tạo vào khoảng năm 1851…

Gian bên trái thờ Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên là hộ pháp, phía trước thờ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh (Quan Vân Trường). Các tượng khí này đều do tổ sư Nguyên Thiều mang từ Trung Quốc sang. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có hoa văn rất đẹp, được đúc từ thời Minh Mạng và nhiều pháp bảo, pháp khí khác như đại hồng chung, bia ký...

Qua nhiều lần được các đời hoàng thân quốc thích triều Nguyễn trùng tu, xây đắp, chùa Quốc Ân được bổ sung những phong cách kiến trúc, trang trí của nhiều thời kỳ lịch sử. Chùa được coi là một trong những ngôi tổ đình ở Huế còn lưu lại nhiều dấu ấn văn hóa xưa quý nhất của Phật giáo xứ Thuận Hóa.


Theo THANH HOA
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

1-7 of 7