Đảo Lý Sơn

Huyện đảo Lý Sơn

posted May 18, 2012, 2:12 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 2:12 AM ]

Mặc dù nằm biệt lập giữa biển, huyện đảo Lý Sơn có nhiều di tích và phong cảnh đan xen giữa núi và biển là những điều thú vị ở huyện đảo nhỏ bé này.

Nằm cách đất liền khoảng 25 cây số chim bay, huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có ba xã là An Vĩnh, An Hải và An Bình với tổng diện tích 9,97 ki lô mét vuông, gồm hai hòn đảo gọi là đảo Lớn và đảo Bé, cách nhau chừng 2 hải lý. Con đường dẫn đến cảng Sa Kỳ rất hẹp, chỉ một xe ô tô 45 chỗ là đã choán hết con đường. Chợ hải sản ở ngay bến cảng sau một đêm đi biển diễn ra rất tấp nập, nhưng chỉ đông đến khoảng 10 giờ sáng là tan. Từ cảng Sa Kỳ, huyện Sơn Tịnh, phải mất hơn một giờ đồng hồ đi tàu cao tốc chúng tôi mới tới được huyện đảo Lý Sơn. Tàu rẽ sóng đi rất nhanh thỉnh thoảng khiến những con cá bạc bay lên khỏi mặt nước như đùa giỡn với con tàu. Từ đất liền ra đảo Lý Sơn, mỗi ngày chỉ có một chuyến tàu cao tốc; ngoài ra, còn có tàu chở hàng và khách (thường gọi là tàu chợ) nhưng cũng chỉ chở được tối đa 50 người. Vì thế, lúc nào tàu cũng đầy khách, có khi còn không đủ đáp ứng nhu cầu đi lại.

Đặt chân lên đảo, nghe mọi người nói có rất nhiều điểm để khám phá với một quần thể đền, chùa cùng cảnh vật thiên nhiên kết hợp giữa núi và biển. Địa điểm gần nhất từ bến tàu vào là chùa Đục. Con đường đất dẫn đến chùa nhỏ, hẹp và đầy bụi bặm. Chùa Đục được xây dựng trong một hang đá trên núi, bên ngoài cửa hang là tượng Phật Quan Âm cao 27 mét, mặt hướng ra biển. Phía trên là đỉnh núi Thới Lới, nếu muốn leo lên đỉnh núi thì phải leo qua khoảng hơn 100 bậc đá. Từ đỉnh núi Thới Lới có thể quan sát được cảnh vật xung quanh đảo với nước biển trong xanh, xen lẫn những phiến đá lô nhô ở ven bờ, dưới chân núi là màu xanh của những ruộng dưa hấu, đậu xanh.

Cùng nằm trên núi Thới Lới nhưng chùa Hang lại được xây dựng trong hang động lớn nhất đảo Lý Sơn. Hang được tạo thành từ những vách đá dựng đứng ở núi Thới Lới, do nước biển xâm thực, hang có chiều rộng khoảng 30 mét ăn sâu vào núi khoảng 25 mét theo kiểu hàm ếch. Nếu nhìn từ xa, ngôi chùa bị che khuất bởi dãy bàng cổ thụ trước cửa chùa. Chùa Hang thờ Phật và các vị tiền hiền họ Trần đã có công khai phá, xây dựng vùng đất này vào thế kỷ 16, trong chùa có bệ thờ được tạo từ thạch nhũ tự nhiên rất đẹp. Du khách phải đi theo đường mòn sát mép biển rồi đi xuống 40 bậc đá để vào chùa.

Ngoài chùa Hang và chùa Đục, đảo Lý Sơn còn có đình làng An Hải là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được xây dựng năm 1820, đến nay đình vẫn giữ được nguyên vẹn những kiến trúc ban đầu. Đây là ngôi đình làng cổ nhất ở Quảng Ngãi và là nơi tổ chức các lễ hội như tế Xuân Thu nhị kỳ, tế tiền hiền,...

Một địa điểm thường được du khách ghé thăm đó là nhà lưu niệm Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải, nơi đây đang trưng bày và lưu giữ các hiện vật của những chiến binh trấn thủ Hoàng Sa thuở trước.

Ngoài các di tích, du khách có thể khám phá cảnh đẹp ở trên đảo. Biển ở Lý Sơn nước rất trong và đẹp, mặc dù không có bãi biển để tắm vì có nhiều đá nhưng đây là nơi rất lý tưởng cho những ai thích khám phá biển, đảo. Vào những ngày trời nắng đi tàu xung quanh đảo, bằng mắt thường có thể nhìn thấy đàn cá tung tăng bơi lội và những rạn san hô đầy màu sắc.

Nhưng điều thú vị nhất khi leo lên đỉnh núi Thới Lới để ngắm nhìn biển và toàn bộ cảnh vật trên đảo. Người hướng dẫn cho biết rằng, núi Thới Lới là ngọn núi được hình thành từ dung nham của núi lửa cách đây hàng vạn năm. Bên trên đỉnh núi trũng xuống, trông giống như lòng chảo, nơi đây đang được quy hoạch xây dựng đập giữ nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp.

Cũng như các vùng biển đảo khác của Việt Nam, các món ăn của người dân Lý Sơn mang rất nhiều hương vị đặc trưng của biển như món gỏi rong biển, món cá chình xào với các loại rau và một số loại ốc mà chỉ ở trên đảo mới có. Ngoài các món ăn từ biển, món dưa hấu ở Lý Sơn cũng được nhiều người biết đến. Dưa ở đây quả nhỏ và có vị ngọt rất khác so với dưa vẫn bán ở thành phố, có lẽ do được trồng trên cát nên dưa ngon hơn. Người dân ở Lý Sơn vẫn thường gọi loại dưa hấu này là dưa An Tiêm.

Nhưng thứ nổi tiếng nhất ở Lý Sơn vẫn là tỏi, tỏi ở đây được trồng trên cát hút từ dưới biển lên. Tép tỏi nhỏ và thơm hơn rất nhiều so với tỏi trồng ở những nơi khác. Tỏi Lý Sơn nổi tiếng là ngon và bán rất đắt hàng.

(Theo TBKTSG Online)

Lý Sơn - đảo thiêng đất Việt

posted May 18, 2012, 12:58 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 12:58 AM ]

Là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, được cấu tạo bởi những lớp đá phun trào basalt có tuổi cách ngày nay rất nhiều triệu năm..., Lý Sơn có các di sản tự nhiên và văn hóa đan xen, hòa quyện vào nhau với mật độ vào loại cao nhất Việt Nam, hứa hẹn một tiềm năng lớn về du lịch, đặc biệt là du lịch địa chất.

Dấu ấn văn hóa lịch sử

Dù dòng chảy thời gian khắc nghiệt đã dần xóa nhòa đi bao dấu tích của tiền nhân, nhưng Lý Sơn kiêu hùng vẫn lưu giữ được những giá trị lịch sử đáng tự hào của người dân đất Việt. Đến Lý Sơn, du khách sẽ bắt gặp các di tích lịch sử - văn hóa vô cùng phong phú, dày đặc và hầu như còn nguyên bản, phân bố rộng khắp trong các khu dân cư. Đó là hệ thống các đình, chùa, nhà thờ, dinh, miếu, lăng tẩm cổ kính, với phong cách kiến trúc độc đáo, nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, những bức hoành phi, câu đối được khảm xà cừ hàng trăm năm tuổi. Trong số đó, có 3 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia là: chùa Hang (Thiên Khổng Thạch Tự); An Long Đình (đình xã An Hải); Âm Linh tự và khu mộ lính Hoàng Sa, cùng nhiều di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh như: lăng Đông Hải, dinh Bà Thiên Y-A-Na, dinh Tam Tòa (xã An Hải), nhà thờ cai đội lính Hoàng Sa - Trường Sa Phạm Quang Ảnh, miếu thờ Cai đội Võ Văn Khiết, lăng Chánh (xã An Vĩnh)... Tổ tiên của những dòng họ ở Lý Sơn ngày nay đã dong thuyền ra đảo lập nghiệp từ thế kỷ 16 - 17. Ở Lý Sơn hiện vẫn còn lưu giữ được khá nhiều nhà rường đắp đất cổ, nhà thờ của một số dòng họ được các vị tiền hiền xây dựng từ những năm đầu tiên ra đảo khai khẩn lập làng, lập ấp. Những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, văn học dân gian, văn hóa ẩm thực và một số nghề thủ công độc đáo... đã có từ xa xưa như lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, lễ cầu siêu cho vong linh các nghĩa sĩ tử trận, lễ thanh minh, lễ phóng đăng và bắn hỏa châu, lễ hội đua thuyền, lễ cầu ngư, lễ tạ mùa, lễ cầu an, các trò chơi dân gian...

Đặc biệt, Lý Sơn còn sở hữu những di sản văn hóa vật thể gắn liền với những trang sử hào hùng của dân tộc như những ngôi mộ gió, những tờ lệnh Hoàng Sa, chứng tỏ rằng Lý Sơn chính là điểm xuất phát của Hải đội Hoàng Sa oai hùng.

Ngoài ra, Lý Sơn còn ẩn chứa trong mình những dấu tích của nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa lừng lẫy một thời với hiện vật là những công cụ sản xuất làm bằng vỏ sinh vật biển hoặc bằng đá như: cuốc, rìu, kim, dùi...; những đồ dùng sinh hoạt như: nồi, vò, bình, bát...; những đồ trang sức như hoa tai, hạt chuỗi bằng thủy tinh và đá quý...; và những vũ khí bằng đồng như mũi tên, hay dao, kiếm bằng sắt... được tìm thấy ở các địa điểm khai quật trên đảo có niên đại trên dưới 3.000 năm...

Sức sống của di sản địa chất

Các di sản địa chất của Lý Sơn bao gồm: cảnh quan thiên nhiên trên đảo, địa hình, địa mạo biển đảo, các miệng núi lửa, các hang động, đá basalt... Các nhà địa chất cho rằng, đảo Lý Sơn được tạo thành do quá trình hoạt động phun trào basalt có tuổi Pleistocene sớm - giữa (cách ngày nay 1.800.000 - 800.000 năm), được đặc trưng bởi bốn miệng núi lửa dạng phễu là Giếng Tiền, Hòn Sỏi, Thới Lới và Hang Câu; hai miệng núi lửa dạng chóp là Hòn Tai và Hòn Vung. Nhìn từ trên xuống, chúng có hình khá tròn. Nhìn ngang từ xa, các miệng núi lửa dạng phễu có hình thang cân lõm giữa rất đặc trưng, có thể dùng làm thí dụ điển hình trong các sách giáo khoa hoặc các giáo trình về núi lửa học. Phễu núi lửa lớn nhất có đường kính 500m, vách dốc đứng, đáy bằng phẳng sâu 40 - 50m. Các núi lửa dạng chóp có kích thước nhỏ hơn, cao 50 - 80m, sườn dốc 25 - 300m, đỉnh hẹp không có miệng phễu, đường kính đáy 200 - 300m, cấu tạo bởi các đá vụn núi lửa, bom núi lửa, đá xỉ và tro núi lửa. Các đá này có lẽ hình thành vào cuối đợt phun trào, thuộc loại phun nghẹn - đổ đống. Ngoài ra, trên đảo còn có các cột đá, khối đá, pháo đài đá đứng sừng sững, hiên ngang tạo nên những cảnh quan đa dạng ghi nhận một thời hoạt động mãnh liệt của các núi lửa trên vùng biển đảo tươi đẹp này.

Ngoài cảnh quan thiên nhiên và địa hình, địa mạo tuyệt đẹp của các miệng núi lửa, du khách còn được thưởng ngoạn các tác phẩm kỳ thú của thiên nhiên, như cổng Tò Vò ở xã An Vĩnh, các hang trong đá núi lửa ở chùa Đục (phía Tây Bắc đảo), chùa Hang (phía Đông Bắc đảo), hang Cò, hang Kẻ Cướp. Các hang này được hình thành do sóng biển ăn mòn vào tầng đá vụn núi lửa từ cách đây khoảng 4.000 - 5.000 năm. Ngoài các di sản địa chất, di sản thiên nhiên của Lý Sơn còn có đa dạng sinh học của hệ sinh thái biển đảo vùng nhiệt đới. Biển Lý Sơn nước trong xanh có thể nhìn thấu đáy, đã liệt kê được ít nhất 685 loài động, thực vật, trong đó có 150 loài cá, 94 loài thân mềm, 15 loài giáp xác, 36 loài san hô (có loài quý hiếm như san hô đen dùng để làm thuốc) và 150 loài rong biển. Hai kiểu sinh thái đặc trưng ở đây là rạn san hô và cỏ biển, là môi trường sinh sống của nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá, tôm hùm, rùa biển, san hô xanh, san hô đen, bào ngư, trai tai tượng...

Đến với Lý Sơn, du khách còn có dịp được đứng trên những vách đá dốc đứng, chênh vênh của những di sản địa chất khổng lồ như Giếng Tiền, Hòn Sỏi, Thới Lới, Hang Câu - Chùa Hang, Hòn Tai, Hòn Vung. Phóng tầm mắt ra xa, du khách sẽ được thỏa sức ngắm nhìn bạt ngàn những cánh đồng màu mỡ chuyên canh hành tỏi thương hiệu Lý Sơn nổi tiếng trải rộng sát bờ biển. Du khách sẽ cảm thấy những dòng dung nham basalt dường như vừa mới cuồn cuộn chảy ra từ trong quá khứ của lịch sử địa chất... Và âm vang đâu đây lời thề sắt son, hào hùng của những chiến binh Hải đội Hoàng Sa trước giờ xuất phát. Lý Sơn được ví như một "chiến hạm” nổi án ngữ giữa Biển Đông mà những người dân Lý Sơn chính là những chiến binh anh dũng vừa bước ra từ những trang sử hào hùng của dân tộc, luôn gánh trên mình hai trọng trách lớn lao là phát triển kinh tế gắn với bảo vệ an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Với những di sản tự nhiên và văn hóa phong phú, đa dạng, kết hợp với tài nguyên và vị thế độc đáo, Lý Sơn đang được các nhà khoa học đề xuất thành lập khu bảo tồn biển - đảo Lý Sơn nhằm bảo tồn và khai thác bền vững tổng thể các giá trị di sản của khu vực.



Theo ĐĐK



Thăm lân Ông ở Lý Sơn, Quảng Ngãi

posted May 17, 2012, 5:44 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 10:35 PM ]

Đến huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), du khách không chỉ ngắm trời mây non nước, thăm các di tích về đội Hoàng Sa vâng mệnh vua ban đi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, mà còn có dịp hiểu thêm về tín ngưỡng của cư dân vùng biển qua việc thờ cá Ông.

Đi dọc mé biển phía tây của huyện đảo Lý Sơn từ xã An Vĩnh qua xã An Hải, bạn sẽ thấy những nghĩa địa cá voi mà ngư dân đất đảo đọc chệch đi là "lân Ông”. Điều này có lẽ xuất phát từ xa xưa, khi ngư dân đất đảo với thuyền bè thô sơ đánh bắt cá trên biển. Thường xuyên đối mặt với bão tố nên họ đặt niềm tin vào sự cứu giúp của thần linh, của những sinh vật hiền lành trên biển như loài cá voi mà họ kính trọng gọi là Ông Nam Hải.

Tại lân Ông thuộc vạn chài làng An Vĩnh, trong buổi chiều nắng tắt, dưới gốc cây phong ba cổ thụ, nhìn ra khơi xa thấp thoáng những con tàu, ngư dân Lê Sòng 78 tuổi kể cho tôi nghe những câu chuyện nhuốm màu giai thoại về những ngư dân gặp bão biển may nhờ Ông phù hộ độ trì nên thoát nạn.

Như trường hợp ông Nguyễn Nùng (quê ở thôn Tây, xã An Vĩnh), câu thúng ngoài biển, chẳng may trời nổi cơn sóng lớn, thúng câu bị lật úp. Ông Nùng chấp chới trong cơn sóng dữ, phần chết đến mười mươi thì Ông từ dưới biển nhẹ nhàng nâng lên khỏi mặt nước, cho ngồi trên lưng. Sau ba ngày đêm biển mới lặng yên, Ông đưa ông Nùng về mé biển gần nhà trong niềm vui mừng không xiết của vợ con.

Còn ông Nguyễn Dần cũng đi thúng câu bị sóng lớn đánh chìm, may mắn được Ông đưa vào tận đất liền thuộc khu vực cửa biển Mỹ Á, xã Phổ Quang, huyện Mộ Đức. Đến đó ông Dần lại được bà con đưa về nhà rồi bón cháo cho. Sau khi khỏe mạnh, trong khi vợ con tưởng ông đã mất xác ngoài biển ông mới trở về lại đảo.

Những câu chuyện như vậy có nhiều nên nhiều thế hệ ngư dân đất đảo luôn đặt niềm tin vào cá Ông và từ lâu dân chài đã lập nhiều lân thờ  Ông cá. Tuy vậy, khác với các làng biển dọc vùng duyên hải miền Trung thường gọi cá voi bơi vào bờ chết là “Ông lụy”, người đất đảo Lý Sơn thì gọi “Ông đi tu”. Một khi “Ông đi tu” về với đất đảo thì dân làng tổ chức lễ theo nghi thức giống như con người.

Nếu cá voi lớn hàng chục tấn thì sau khi "lụy" vào bờ ngư dân đem chôn ngoài đất từ 5-7 năm, cá nhỏ từ 3-4 năm. Sau đó họ hốt cốt bỏ trong quách để phía trong lăng và lập bàn thờ.

Chúng tôi dừng lại trước lân Tân nơi thờ hai bộ xương cá voi lớn mà dân đảo cho biết tước hiệu là Nam Hải đồng đình đại vương và Nam Hải đức ngư tôn thần.

Ông Phù Ngã, trưởng vạn chài thôn Đông, xã An Vĩnh, kể: "Từ lúc còn nhỏ, cha tôi đã kể về chuyện Ông Nam Hải đồng đình đại vương này. Hồi đó khi “Ông đi tu” còn ở ngoài biển xa, một ngư dân trong làng đã được báo mộng sẽ có “Ông đi tu“ dạt vào".

Ba tháng sau trong một ngày biển rất yên thấy ngoài khơi có nhiều dợn sóng, dân làng biết  Ông được các Ông khác đưa vào bờ, bèn dùng ván lót ở phía dưới, quấn dây thừng rồi dùng thuyền buồm kéo vào. Sau đó, phụ nữ mua giấy điều về trải, người già thì lo tế lễ cầu xin tước hiệu, còn cánh thanh niên lo đào huyệt để táng bên mé biển. Lễ táng xong, vài tháng sau, dầu cá từ cơ thể Ông cứ rịn ra thấm vào đất làm ươn ướt cả một vùng.

Bảy năm sau đó, dân làng tiến hành hốt cốt, mua dát trầm về xông. Nhưng bộ cốt lớn quá, có chiều dài khoảng 7m và đốt xương như chiếc cối quá lớn mà lăng thì nhỏ nên đành lót giấy điều sắp cốt.

Còn về Ông Nam Hải đức ngư tôn thần thì có trước cả Ông Nam Hải đồng đình đại vương. Qua nhiều thế kỷ, “Ông đi tu” đến vùng biển đảo này nhiều hơn, nhưng lần nào cũng vậy, dân làng đều tổ chức nghi lễ đón Ông trong niềm kính trọng.

Du khách từ phương xa đến muốn vào viếng lân thờ Đức Nam Hải đồng đình đại vương thì theo ông Phù Ngã, phải tìm đến chủ vạn. Sau đó, chủ vạn sẽ có lời đề đạt với những dân chài cao niên trong vạn. Nếu những bậc cao niên đồng ý thì chủ vạn sẽ tiến hành một lễ gồm ba mâm trầu rượu để cầu xin Ông đồng ý rồi mới được mời du khách vào viếng.

Thời gian trôi qua, bây giờ ngư dân đất đảo nhiều người đã đóng tàu lớn, trang bị nhiều phương tiện đánh bắt hải sản hiện đại như máy tầm ngư, máy định vị. Nhưng ở huyện đảo Lý Sơn cũng như nhiều vùng biển miền Trung năm nào cũng hứng chịu bão tố và cũng có ngư dân gặp nạn nên dân chài vẫn đặt niềm tin vào Ông cá. Hầu như trước các chuyến ra khơi dân chài đều vào lân Ông thắp nhang xin phù hộ. Rồi sau những chuyến ra khơi trở về, họ lại thắp hương, tưởng nhớ công đức của Ông.

Ở vạn chài, thường trong dịp kết thúc mùa biển, bà con dân chài tổ chức cúng vạn, hát bả trạo (một hình thức cá hát dân gian diễn tả công cuộc đánh bắt hải sản trên biển đầy nhọc nhằn, gặp bão tố, cố sức chống chèo, được Ông độ trì nên thoát nạn trở về cập bến bình yên, trong khoang đầy cá).

Cũng chính vì thế nên việc thờ cùng cá Ông từ lâu đã trở thành tín ngưỡng của ngư dân vùng biển đảo này.

Bài, ảnh: VÕ QUÝ CẦU

Theo Tuoi Tre Online

Ra đảo Bé mùa khô hạn, Lý Sơn, Quảng Ngãi

posted May 17, 2012, 2:15 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 10:35 PM ]

“Đảo Bé đang khát”, “bão tố bao vây đảo Bé”... Bên cạnh những dòng tin thời sự, ít người biết đảo Bé (xã đảo An Bình, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn là một điểm đến đáng để khám phá.

Để đến được đảo Bé, chúng tôi phải đón tàu từ đất liền ra đảo Lý Sơn rồi sáng hôm sau ra cầu cảng đón chiếc tàu đò duy nhất trong ngày qua đảo Bé. Mất 40 phút dập dềnh trên sóng, con tàu đò cũ kỹ mới “đo” được hơn 5km mặt biển. Vào quán nước ở cuối cầu cảng, chị chủ quán bảo: “Ăn xu xoa hả mấy anh?”. Nghe lạ tai, chúng tôi đồng ý ngay. Ly xu xoa trông giống rau câu, ăn nghe ngon quá nên mỗi người “làm” ba ly. Chủ quán cho biết món này được chế từ rong biển quanh đảo Bé.

Đối diện với quán xu xoa là ngôi miếu cổ thờ những tiền nhân khai hoang lập làng. Làng chài với gần 100 nóc nhà và khoảng 500 nhân khẩu sống tập trung ở phía tây hòn đảo chỉ có diện tích 1km2 mặt đất khá bằng phẳng. Đó cũng là dân số và diện tích của xã đảo An Bình. Nhà cửa đậm “chất” đảo xa, nhỏ và thấp, nằm san sát nhau để chống chọi với gió to bão lớn.

Mùa này trời yên biển lặng, làng chài vốn bình yên càng yên bình hơn khi hầu hết đàn ông đều ở ngoài biển đánh bắt. Trên những con đường nhỏ, mấy cô gái thong thả quay cối đá xay đậu và bột. Những liếp rau nhỏ xíu che đậy cẩn thận, những lu nước lớn đặt dưới mái nhà chờ nước mưa. Ngoài rìa làng, những thửa ruộng toàn cát trắng khô rang đang chờ mùa trồng tỏi. Ngoài cùng là một vùng đất chỉ có sỏi đá khô cằn.

Bắt đầu từ cuối làng chài, men theo ghềnh đá đi về phía nam, qua một ngôi miếu thờ lặng lẽ bên mép biển là bãi cát trắng phau, thoai thoải cong cong chiếm trọn bờ phía nam. Vẫy vùng một hồi để giải nhiệt cơ thể nóng hầm hập, chúng tôi tiếp tục khám phá bờ biển phía đông dài khoảng 1km. Khác hoàn toàn với bờ nam, phía đông toàn ghềnh đá được tạo bởi vô số tảng đá đen, có đoạn gồ ghề lởm chởm, có đoạn hiểm trở do có nhiều tảng đá lớn.

Bờ biển phía bắc là một bãi biển cong cong toàn đá cuội pha lẫn cát trắng ngà dưới ánh mặt trời chói chang. Chẳng mấy chốc, chúng tôi băng qua bãi biển khoảng 500m để tiếp cận với bờ biển phía tây dài khoảng 1km, một nửa là ghềnh đá trắng được tạo bởi những viên đá nhỏ màu trắng, một nửa là ghềnh đá đen lởm chởm... Bờ biển đa dạng về địa hình lẫn màu sắc, những rặng dứa rừng ấn tượng được tạo bởi vô số cây dứa cổ thụ to lớn như thách thức phong ba bão tố.

Chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, để bảo vệ biển đảo của người Việt xưa, ngay những em bé thơ ngây cũng ý thức “nước ngọt là vàng” nên sau khi tắm biển xong, chạy về nhà múc một ca nước trong lu cũng đến đứng sát gốc cây để vừa tắm vừa tưới nước...

ĐĂNG KHOA

Theo Tuoi Tre Online

1-4 of 4