Quần đảo Trường Sa


Cô Lin - “Mắt thần” của biển

posted May 18, 2012, 2:26 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 2:26 AM ]

Trong quần đảo Trường Sa, so với các đảo khác, với vị trí chiến lược của mình, đảo Cô Lin được coi như "mắt thần” của biển.

Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề. Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.

Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là "sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là "người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đi nhiều, ghi nhận nhiều, anh như "cuốn biên niên về đảo và các đảo” trong quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.
Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc "hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng "người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự "lớn mạnh” của mình, "người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những "tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là "cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn "con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho "tàu ủi bãi” - một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo - Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc "mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.

Xanh thắm "mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.
Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi "đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh "về gần” với đất liền hơn.
Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã "ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả "trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.

Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy "chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: "Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã "làm thêm” được 865kg rau xanh, đánh bắt được 402kg cá các loại, chăn nuôi được 60kg thịt các loại... Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào. Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí "mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con "mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở Đảo này!

Theo ĐĐK

Đảo chìm Tiên Nữ - nơi bình minh đến sớm

posted May 18, 2012, 1:57 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 1:57 AM ]

Đảo chìm Tiên Nữ cách thành phố Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) gần 400 hải lý, nằm ngoài cùng của sườn phía Đông quần đảo Trường Sa, nên đảo này luôn là nơi đón bình minh đầu tiên của Tổ quốc Việt Nam.

Chỉ tay về các hướng của đảo, Trung úy Nguyễn Văn Quế, Phó Đảo Tiên Nữ cho biết: Chiều dài nhất của đảo khoảng 9 km, nơi rộng nhất khoảng 8 km, cao trung bình 0,3m. Đảo là một vành san hô khép kín gắn với câu chuyện huyền thoại về một người con gái xuất hiện giữa biển khơi mang đến bình yên cho vùng này. Khi thủy triều xuống có những gò san hô nổi lên, nhiều và cao nhất là rìa Bắc và rìa Đông của đảo. Ở rìa Đông có hai hòn đá mồ côi luôn cao hơn mặt nước biển. Khi thủy triều xuống còn 0,1 m, toàn bộ vành ngoài mép san hô đều nổi cao lên, có thể đi bộ quanh đảo. Thềm san hô quanh đảo có chiều rộng từ 300 đến 500 m. Phía trong vành đai san hô là hồ, chiều dài hồ khoảng 7,5 km, chiều rộng khoảng 3,4 km.

Điều kiện thời tiết, thủy văn của đảo Tiên Nữ mang đặc điểm của quần đảo Trường Sa, mát về mùa hè, ấm về mùa đông, có hai mùa mưa và khô. Từ đảo Tiên Nữ đến các đảo Tốc Tan, Núi Le, Phan Vinh và 1 số đảo phía Nam của quần đảo Trường Sa khoảng cách không xa, thuận tiện cho việc trao đổi thông tin, gặp gỡ tiếp xúc giữa các đảo và là địa chỉ tin cậy của ngư dân các địa phương ra sản xuất trong khu vực này. Xung quanh đảo có nhiều loại tôm, cá quý hiếm như cá ngừ, cá mú, cá tráp, tôm hùm, rùa biển dễ đánh bắt, khai thác, chế biến phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Trong lòng hồ có phao buộc tàu, luồng ra vào có tiêu chỉ dẫn, thuận tiện cho tàu thuyền.

Theo Thượng úy Vũ Xuân Đức, quê ở Ninh Bình: "Mình là một trong những người được đón những ánh nắng mặt trời đầu tiên của Tổ quốc. Những ngày đầu tiên ra đảo Tiên Nữ, mình cũng không ngủ được vì háo hức được ngắm bình minh trên vùng biển bao la này".

Đảo Tiên Nữ nằm ngoài cùng của sườn phía Đông quần đảo Trường Sa, được ví như 1 vị trí tiền tiêu của quần đảo, dễ phát hiện mục tiêu từ xa tới, cùng với các đảo trong quần đảo tạo thành lá chắn ngoài cùng bảo vệ sườn phía Đông của Tổ quốc, nên chỉ huy đảo Tiên Nữ luôn chú trọng nâng cao chất lượng công tác huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên trao đổi kinh nghiệm mọi mặt công tác cho cán bộ, chiến sỹ; đảm bảo đúng các chế độ, nguyên tắc quy định, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ trên đảo.

Cán bộ, chiến sỹ trên đảo Tiên Nữ luôn nỗ lực rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, rèn luyện thể lực, tích cực học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, không sợ gian khổ, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ, tích cực xây dựng đơn vị, đoàn kết thương yêu đồng chí, đồng đội, tôn trọng và giúp đỡ nhân dân. Hiện trên đảo đã có nhà lâu bền, vừa là nơi học tập, sinh hoạt, công tác ăn ở, nghỉ ngơi, vừa là công trình chiến đấu phòng thủ đảo.

Chiến sỹ trẻ Trịnh Văn Dũng, quê ở huyện Nga Sơn -Thanh Hóa nói: "Đây là lần đầu tiên ra đảo nên em hết sức háo hức dù biết rằng ở nơi đảo xa sẽ gặp không ít khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, phải thường xuyên đối mặt với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Song với sức trẻ và quyết tâm của một người lính hải quân, em tin sẽ vượt qua được những khó khăn vất vả, để hoàn thành tốt nhiệm vụ thiêng liêng cao cả, góp chút sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc".


Thanh Tuấn
Theo Biển Toàn Cảnh

Nguồn lợi rong biển Trường Sa

posted May 18, 2012, 12:59 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 12:59 AM ]

Nghiên cứu mới công bố của các nhà khoa học ở Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên & Môi trường Biển) cho thấy, quanh quần đảo Trường Sa có hàng trăm loài rong biển, trong đó không dưới 60 loài có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao.

Theo TS Đàm Đức Tiến, Trưởng phòng Sinh thái Tài nguyên Thực vật Biển thuộc Viện Tài nguyên &Môi trường Biển, rong biển ở quần đảo Trường Sa có sự phân bố đa dạng và không đồng đều. Tại 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Phan Vinh, Tốc Tan, Thuyền Chài, Đá Tây, Sinh Tồn và Đá Nam), các nhà khoa học đã xác định được 255 loài rong biển thuộc bốn ngành.

Số lượng loài tại các đảo dao động từ 17 loài (đảo Phan Vinh) đến 127 loài (đảo Đá Tây) và trung bình 72,9 loài. Nguyên nhân chính của mật độ phân bố chênh lệch này là do sự khác nhau về vị trí địa lý giữa các đảo, tác động của con người và thiên nhiên.

Trong số hàng trăm loài, bước đầu, các nhà khoa học xác định 62 loài rong có giá trị kinh tế, trong đó, một số loài có trữ lượng tự nhiên tức thời như rong mơ (34 tấn), rong câu (9 tấn), rong guột (10 tấn), rong quạt (5 tấn), rong gai (9 tấn), rong đông (13 tấn), rong mào gà (15 tấn), rong sụn (30 tấn) và rong loa kèn (20 tấn).

Với nguồn lợi như trên, “rong biển tại quần đảo Trường Sa trở thành một nguồn tài nguyên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn”, TS Tiến, điều phối viên quốc gia giám sát rạn san hô, nói. Nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học, góp phần bổ sung tài liệu về nguồn lợi rong biển trong nước mà còn giúp cơ quan quản lý tại quần đảo Trường Sa có thể định hướng khai thác nguồn tài nguyên quý giá này một cách hợp lý và có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng hải đảo.

Căn cứ giá trị sử dụng của từng loài, các nhà khoa học đã phân loại rong biển tại quần đảo Trường Sa thành sáu nhóm làm nguyên liệu chế biến cụ thể như nhóm làm nguyên liệu chế biến kẹo Carrageenan, nhóm làm nguyên liệu chế biến thạch (agar), dược liệu, thực phẩm, phân bón và rau xanh.

Rong biển, một nhóm thực vật bậc thấp sống ở biển, được biết đến như một nguồn lợi thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và tác dụng chữa bệnh. Rong biển còn làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm. Theo TS Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý Biển, rong biển đang là một trong những đối tượng có nhiều triển vọng, góp phần đáng kể làm thay đổi bộ mặt các vùng nông thôn nhất là vùng nông thôn ven biển và hải đảo Việt Nam.


Theo TP

Ghé thăm “đảo dừa” Trường Sa

posted May 18, 2012, 12:41 AM by An Bui   [ updated May 18, 2012, 12:41 AM ]

Ở huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa), hiếm có nơi nào nhiều dừa như ở Nam Yết. Nơi đây, từng hàng dừa vững chãi, vươn lên thẳng tắp, căng tròn nhựa sống, là lá chắn bão táp cho đảo giữa biển khơi mênh mông.

Đặc sản của Nam Yết

Sau 2 ngày dừng chân ở Song Tử Tây, Đoàn công tác số 6 tiếp tục hành trình tới Nam Yết – đảo lớn thứ 2 thuộc quần đảo Trường Sa. Từ Song Tử Tây đi Nam Yết mất khoảng nửa ngày hải trình. Chỉ huy trưởng đảo Nam Yết – Thượng tá Bùi Văn Chiến ra tận bến đón những xuồng khách đầu tiên cập bờ. Anh hồ hởi giới thiệu với chúng tôi các đặc sản "độc” và "lạ” của đảo. Trong số đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới "Dừa”.

Dừa ở Nam Yết không phải là loại thực vật duy nhất, vì bên cạnh loại cây này còn có những cây khác như: phong ba, bão táp, bàng vuông, đu đủ, vốn sống phổ biến tại các đảo nổi thuộc quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, xét về số lượng và sức sống mãnh liệt của loại cây này thì ở Nam Yết là nhiều hơn cả. Thượng tá Chiến cho biết: dù thổ nhưỡng và khí hậu chưa phải là tốt nhất, nhưng dừa vẫn thích nghi một cách rất tuyệt vời. Dừa giúp lính đảo cải thiện đồ uống mát lành, đồng thời cũng giúp đảo chống chọi với những cơn bão lớn thường xảy ra vào dịp cuối năm. Nhiều lính đảo còn sử dụng sọ dừa khô để làm gáo muc nước, thiết kế những hộp quà nho nhỏ gửi tặng về đất liền, hoặc lá dừa thì dùng để lợp giàn chắn sóng, chống nhiễm mặn cho các vườn rau xanh,...

Lính trẻ đảo Nam Yết, Trung úy Lưu Văn Hiếu cho biết: dừa ở đảo ra trái hầu như quanh năm, nhưng khoảng tháng Chạp âm lịch thì dừa ra ít hơn, lính đảo gọi là "nghịch mùa”. Dù vậy, vào những mùa khô, dừa đậu trái rất nhiều, mỗi cây có từ 2 đến 3 buồng. Thường vào dịp này, mỗi vị khách từ đất liền ra thăm đảo sẽ được thưởng thức một trái dừa mát lành của đảo.

Ngoài dùng làm thức uống giải khát, dừa cũng được lính đảo Nam Yết sử dụng làm các bài thuốc cổ truyền. Theo Trung úy Lưu Văn Hiếu, không giống như cây nhàu (một đặc sản khác của đảo) được dùng uống như nước trà, chữa bệnh huyết áp thì dừa là một "biệt dược” để anh em chiến sĩ sử dụng chữa tiêu chảy, cũng như một số chứng chảy máu cam, cảm nắng.

Nghe Trung úy Hiếu kể về tác dụng của dừa, chúng tôi "mắt chữ A, miệng chữ O” nhìn anh như muốn nuốt từng lời. Đem thắc mắc hỏi bác sĩ Hoàng Quốc Khánh (công tác tại Bệnh xá đảo Nam Yết), chúng tôi được anh cho biết thêm nhiều tác dụng chữa bệnh của dừa, mà trước đây dù đã được học đến 45 tiết y học đại cương hồi học đại học nhưng chúng tôi cũng không thể hình dung ra hết. "Nước dừa rất tinh khiết, không độc, giúp giải nhiệt, cầm máu rất tốt. Đôi khi, trong y học thì người ta còn có thể dùng nước dừa làm dịch truyền nữa” - bác sĩ Khánh cho biết.

Lá chắn bão táp


Trước đây, trong nhiều dịp công tác ở đất liền, chúng tôi đem câu chuyện về người phụ nữ trong bài hát "Dáng đứng Bến Tre” hỏi các anh em bên Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh này, được các anh cho biết nhiều giai thoại thú vị về hình tượng người con gái trong bài hát, nhưng có một chi tiết tôi thắc mắc mãi là "Dáng đứng Bến Tre” và dáng đứng của người con gái, thực ra giống nhau nhất ở điểm nào? Mãi sau này, khi dự "Festival Dừa Bến Tre lần thứ 2” cách đây 2 năm, các anh mới giải thích một đoạn mà tôi cho là chí lý – đó là mái tóc và lá dừa. Thực ra, trong lời bài hát, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng đã dùng một hình ảnh rất sắc ở đoạn kết để ẩn dụ, là "Lại nhớ tóc ai dài còn mang dáng đứng Bến Tre”. Xét vậy, chúng tôi cười và không ngớt thán phục cách giải thích của các anh.

Trở lại câu chuyện của chúng tôi với Trung úy Lưu Văn Hiếu, anh kể về sức chống chọi rất tuyệt vời của dừa Nam Yết. Hiếu lấy ra dẫn chứng để thuyết phục chúng tôi là dừa ở Nam Yết do phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt, mưa bão quanh năm nên độ dẻo dai bao giờ cũng mãnh liệt hơn so với dừa ở đất liền. Đặc biệt, thân dừa có độ đàn hồi cao, có thể chịu được bão cấp 8, cấp 9 là bình thường, thậm chí có thể là bão mạnh hơn thế.

Quả thực, dừa ở Nam Yết có một sức sống thật đặc biệt. Hôm chúng tôi cùng một số anh em trong đoàn nhà báo đi thăm một vòng quanh đảo, chứng kiến những lá dừa xanh mướt, tán lá đâm theo chiều thẳng đứng lên trên, vượt qua cả tán của phong ba, bão táp mọc chen chúc thành một thảm xanh bên dưới. Rõ ràng, lá dừa ở đây không mở tán quá rộng như hình ảnh mái tóc của người phụ nữ bay trước gió, như trong bài hát "Dáng đứng Bến Tre”, mà lá dừa ở Nam Yết lại đâm thẳng lên như những bàn chông bằng tre lứa vót nhọn, hiên ngang trước giông tố, bão táp. Vậy là, từ những tò mò ban đầu về việc dừa tại sao được trồng nhiều ở Nam Yết, qua chuyện trò của các chiến sĩ, chúng tôi tiếp tục biết thêm nhiều thông tin về một trong những loại cây đặc sản trên đảo.

Đoàn công tác chỉ dừng chân ở Nam Yết vỏn vẹn 3 tiếng, rồi lại rời đi thăm các đảo chìm, đảo nổi và nhà giàn, để lại trong mỗi chúng tôi những cảm xúc khó tả về một "Dáng đứng hiên ngang, sừng sững, nhưng cũng có thể dễ dàng uốn cong để vượt qua những đợt bão tố khắc nghiệt trên biển, gìn giữ bình yên cho những người lính đang ngày đêm canh giữ biên cương xa xôi của Tổ quốc”.


Theo ĐĐK

Trường Sa, Khánh Hòa

posted May 17, 2012, 9:00 PM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 9:00 PM ]

Trường Sa là huyện đảo của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, bao gồm các đảo, đá, bãi nằm trong quần đảo Trường Sa.

Vị trí 

 Huyện đảo Trường Sa nằm trên biển Đông, ở phía Đông và Đông Nam bờ biển Việt Nam. Huyện Trường Sa nằm ở tọa độ địa lý phạm vi 6°50'00" đến 12°00'00" vĩ độ Bắc và từ 111°30'00" đến 117°20'00" kinh độ Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý (tính từ đảo Trường Sa Lớn).

Hành Chính

Theo nghị định số 65/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2007 của chính phủ Việt Nam, huyện Trường Sa có ba đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thị trấn Trường Sa, Xã Song Tử Tây, Xã Sinh Tồn 

Thị trấn Trường Sa được thành lập trên cơ sở đảo Trường Sa Lớn và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận. Xã Song Tử Tây được thành lập trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận. Xã Sinh Tồn được thành lập trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, bãi đá, bãi phụ cận. Theo thống kê mới nhất ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số toàn huyên Trường Sa là 195 người trong đó khu vực thị trấn Trường Sa lớn là 83 người.

Địa lý 

Quần đảo Trường Sa là một dãy hơn 100 đảo lớn nhỏ, bãi ngầm, bãi đá san hô nằm lập lờ hoặc nhô lên khỏi mặt nước, khi thủy triều xuống thấp, bao bọc một vùng biển rộng ước chừng 160.000 đến 180.000 km². Quần đảo Trường Sa được chia làm 8 cụm: cụm Song Tử, Loai Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên. Trong quần đảo Trường Sa, đảo cao nhất là Song Tử Tây, ở phía Bắc quần đảo, cao khoảng 4-6 m khi thủy triều thấp nhất. Đảo nằm xa nhất về cực Nam là đảo Sác Lốt. Đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (khoảng 0,6 km²) sau đó đến đảo Nam Yết (0,5 km²), còn lại là các đảo nhỏ hơn. Khoảng cách giữa các đảo cũng khác nhau, gần nhất từ Song Tử Đông đến Song Tử Tây khoảng 1,5 hải lý, xa nhất từ Song Tử Tây đến đảo An Bang khoảng 280 hải lý.

Vị trí địa lý quần đảo Trường Sa

posted May 17, 2012, 8:55 PM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 8:55 PM ]

Tọa độ: 8°38′ Bắc 111°55′ Đông
Diện tích (đất liền): nhỏ hơn 5 km²
Ghi chú: gồm khoảng 148 đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm rải rác trên một diện tích gần 410.000 km² ở giữa biển Đông
Đường bờ biển: 926 km
Khí hậu: nhiệt đới
Địa thế: phẳng
Cao độ:
điểm thấp nhất: Biển Đông (0 m)
điểm cao nhất: vị trí không đặt tên ở đảo Song Tử Tây (4 m)
Thảm hoạ thiên nhiên: bão; nguy hiểm cho giao thông đường biển bởi vì nhiều đảo đá ngầm và bãi cạn.

Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa. Có khoảng hai mươi đảo, trong đó đảo Ba Bình có diện tích lớn nhất, được coi là nơi cư dân có thể sinh sống bình thường. Các nguồn lợi thiên nhiên gồm: cá, phân chim, tiềm năng dầu mỏ và khí đốt còn chưa được xác định. Ngoài nghề cá, các hoạt động kinh tế khác bị kiềm chế do tranh chấp chủ quyền. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏ và khí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Các khảo sát khác nhằm phục vụ kinh tế và thương mại còn ít thực hiện. Quần đảo Trường Sa hiện chưa có cảng hay bến tàu nhưng có bốn sân bay trên các đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.

1-6 of 6