Du lịch Hà Nội

An vị và khánh thành điện Phật ngọc tại chùa Vạn Niên (Hà Nội)

posted May 17, 2012, 7:40 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:40 AM ]

Sáng 31/10, tại chùa Vạn Niên, 364 Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội đã tổ chức lễ an vị và khánh thành điện Phật ngọc chùa Vạn Niên. Tới dự buổi lễ có sự tham dự của lãnh đạo ban, ngành trung ương và thành phố Hà Nội. Việc an vị bức tượng phật Thích Ca, cao hơn 1,3 m và nặng 600kg, được làm từ ngọc Jadeit tự nhiên càng làm cho bộ di vật của chùa Vạn Niên thêm độc đáo. Đây cũng là một hoạt động chào mừng thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và đón chào chùa Vạn Niên tròn 1000 năm tuổi (1011 – 2011).

Chùa Vạn Niên nằm ở bờ phía tây của Hồ Tây, thuộc ấp Quán La (nay là Xuân La, quận Tây Hồ). Hiện nay, chùa Vạn Niên thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Qua 1.000 năm lịch sử, với bao thăng trầm và biến cố, ngôi chùa đã nhiều lần được trùng tu. Đến nay, chùa Vạn Niên có phong cách kiến trúc thời Nguyễn, mặt bằng chùa bao gồm: Tam quan, chùa chính và điện mẫu. Câu đối ở hàng cột nhà bái đường đã nói rõ: “Cổ tự trùng tu tân cảnh sắc/Vạn Niện kiến tạo cựu quy mô” (Chùa cổ trùng tu cảnh sắc mới/Vạn Niên sửa chữa quy mô xưa).

Hiện chùa còn giữ bộ di vật với hơn 40 pho tượng tròn và 10 đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn có giá trị lịch sử - văn hoá nghệ thuật cao. Đặc biệt chùa còn có Bài ký trên chuông đồng “Vạn Niên Tự Chung” đúc vào đời Gia Long thể hiện: Chùa Vạn Niên là một di tích cổ có qui mô bề thế, một danh lam cổ vừa tâm linh vừa có kiến trúc nghệ thuật độc đáo ở phía tây kinh đô Thăng Long. Phát biểu tại buổi lễ, Hòa Thượng Thích Thanh Sam, Phó pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết, việc an vị và khánh thành điện Phật ngọc chùa Vạn Niên không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh.

Bên cạnh đó, đây còn là một công trình có ý nghĩa văn hóa to lớn, mang lại cho quần thể kiến trúc của chùa Vạn Niên thêm đẹp và trang nghiêm. Trụ trì chùa Vạn Niên, Đại đức Thích Minh Tuệ cho biết, là một người xuất gia nên ông muốn làm thật nhiều việc tốt, có ích cho xã hội. Mọi việc ông làm đều xuất phát từ tâm của mình, mong sao cho cuộc sống của mọi người được nhiều niềm vui, may mắn, mạnh khỏe và hạnh phúc. Đặc biệt, ông mong sao ngôi chùa cổ Vạn Niên được trường tồn mãi mãi với tên gọi “Vạn Niên Tự”./.


Theo VOV News

Công bố 20 kỷ lục Việt Nam của thủ đô Hà Nội

posted May 17, 2012, 7:39 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:39 AM ]

Vào ngày 10/10, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã công bố và chính thức xác lập lần thứ nhất 20 kỷ lục Việt Nam của thủ đô Hà Nội.

1. Nơi duy nhất chứng kiến sự ra đời của 3 bản tuyên ngôn độc lập Đó là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (đầu thế kỷ 15) và Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1945). Cùng bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt (nửa sau thế kỷ 11) được các nhà sử học coi như “Ba bản Tuyên ngôn độc lập” của dân tộc Việt Nam.

2. Thành phố có nhiều hồ đầm nhất Có đến hơn 40 hồ đầm lớn nhỏ ở nội và ngoại thành Hà Nội;

3. Thành phố lớn nhất Diện tích của thành phố Hà Nội mở rộng là 3.324,92km2, đứng đầu cả nước về diện tích và nằm trong số 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.

4. Thành phố có nhiều di tích danh thắng nhất Hà Nội có hơn 4.000 di tích danh thắng, trong đó có hơn 1.000 di tích đã được xếp hạng quốc gia, kho tàng văn hóa phi vật thể, hơn 1.200 làng nghề độc đáo.

5. Thành phố có hệ thống bảo tàng nhiều nhất Đó là Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách Mạng, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng chiến thắng B52, Bảo tàng phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Mỹ Thuật, Bảo tàng Hà Nội…

6. Thành phố có tên phố và ngõ bắt đầu bằng chữ "Hàng" nhiều nhất Thăng Long-Hà Nội xưa có tới hơn 50 tên phố, ngõ được bắt đầu bằng chữ Hàng, gắn với những thứ hết sức quen thuộc trong đời sống như Cỏ, Chuối, Chĩnh, Chiếu, Chỉ, Chè, Cháo, Chai…

Những kỷ lục còn lại là “Trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam - Quốc Tử Giám” (1076); Văn Miếu (1070) - “Nơi có nhiều hệ thống văn bia Tiến sĩ nhiều nhất”; “Bia Tiến sĩ đầu tiên” - khắc cho khoa thi 1442, có ghi tên 33 vị tiến sĩ; “Tòa thành cổ nhất” - Thành Cổ Loa xây năm 225 trước công Nguyên; “Công trình Đài Nghiên, Tháp Bút duy nhất” (1865); “Làng cổ đầu tiên được công nhận di tích Lịch sử cấp quốc gia” - Làng cổ Đường Lâm có 800 ngôi nhà cổ bằng đá ong, 21 di tích; “Phố có nhiều cổng làng nhất” - Phố Thụy Khuê dài 3,2km có hàng chục cổng làng; “Di tích có quy mô khai quật nhiều nhất” - Di tích hoàng thành Thăng Long diện tích khai quật rộng hơn 19.000m2. Hà Nội còn có “Trường Mỹ thuật đầu tiên” - Trường Mỹ thuật Đông Dương (1924); “Trường Đại học Y Dược đầu tiên” (1902); “Viện nghiên cứu khoa học đầu tiên” - Viện Viễn Đông Bác Cổ (1901); “Khu vườn duy nhất có nhiều giống cây trái đặc trưng 3 miền” - đó là khu vườn nhà Bác Hồ; “Cây cầu sắt nhiều tuổi nhất” – cầu Long biên (1902); “Làng làm nghề ảnh sớm nhất” - làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức có nghề ảnh từ những năm 1900-1910./.


Theo TTXVN

Rồng bay trên thành phố ngàn năm tuổi

posted May 17, 2012, 7:39 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:39 AM ]

“Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội”, hướng về Thủ đô ngàn năm văn hiến với nỗi nhớ da diễt là tình cảm của mỗi người con đất Việt khi xa mảnh đất Kinh kỳ. Ngày 10/10, năm nay đã đi vào lịch sử như một mốc son khẳng định vị thế của Thủ đô ngàn năm tuổi.

Chương trình “Thăng Long - Hà Nội - thành phố rồng bay” diễn ra vào 20h ngày 10/10, tại sân vận động Quốc gia Mỹ Đình đã tái hiện lại hình ảnh Hà Nội anh dũng, kiên cường từ thuở sơ khai, vượt bao khó khăn, gian khổ để đạt được những thành tựu như ngày nay. Chương trình mở đầu với màn trình diễn công nghệ ánh sáng laze, hình ảnh một con rồng lớn từ trên trời bay xuống kinh thành Thăng Long, trên màn hình chiếu hình ảnh thành Thăng Long xưa... Tất cả tạo nên khung cảnh hùng vĩ, thiêng liêng. Màn trình diễn của hơn 600 diễn viên trong những trang phục tạo hình ảnh chiếc khiên cọc nhọn nhấp nhô, thể hiện trận chiến trên sông Bạch Đằng. Tiết mục để lại ấn tượng với người xem bởi sự hùng tráng, tinh thần chiến đấu kiên cường của các tướng sĩ thuở xưa. Phần biểu diễn “Trúc lâm thiền tự” với hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông xuất hiện trên màn hình lớn, xa xa là tiếng mõ chùa, tiếng lá cây xào xạc, tạo khung cảnh linh thiêng, thể hiện nét văn hoá tâm linh của người dân Việt Nam.

Tiếp đến là màn trình diễn của 100 diễn viên trong trang phục màu vàng với vũ điệu mang tính thượng võ nhưng được cách điệu bằng ngôn ngữ múa đương đại, thể hiện sự khoáng đạt, bay bổng, khát vọng chiến thắng. Người xem được hoà mình vào không khí võ thuật với phần biểu diễn Thái cực quyền của 520 người cao tuổi. Trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, hình ảnh Hà Nội mùa đông năm 1946 và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là trang vàng trong lịch sử dân tộc. Chương trình tái hiện hình ảnh Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập. Giai điệu của ca khúc”Tiếng đàn bầu” thể hiện phút sâu lắng, mất mát, đau thương của chiến tranh. Hình ảnh nghệ sĩ đánh đàn bầu trên sân khấu được nâng lên cao cùng sự chiếu sáng của ánh sáng laze tạo ấn tượng đặc biệt cho người xem bởi sự kết hợp khéo léo giữa truyền thống và hiện đại.

Màn múa hát “Đất nước trọn niềm vui” vang lên như một khúc khải hoàn của đại thắng mùa xuân 1975. Toàn bộ sân khấu bừng lên một không khí mừng vui, chiến thắng. Hình ảnh Bắc Nam thống nhất xum họp một nhà, thể hiện những khát khao về ước vọng tươi sáng trong tương lai của dân tộc. Ca khúc “Hà Nội đêm trở gió” do ca sĩ Mỹ Linh biểu diễn và phần trình diễn áo dài của các thiếu nữ thể hiện nét thanh lịch, nên thơ nhưng cũng rất tinh tế của người Tràng An. Một Hà Nội hiện đại, hừng hực khí thế vươn lên trong tương lai được tái hiện qua màn múa do các cháu thiếu nhi Thủ đô biểu diễn. “Chúng ta là thế giới trong ký ức học trò/ Tuổi trẻ là ước mơ vươn tới”, câu ca trong bài hát kết thúc chương trình nghệ thuật chào mừng Hà Nội 1000 năm tuổi như mở ra một tương lai rực rỡ trong tay thế hệ măng non. Chương trình “Thăng Long - Hà Nội - thành phố rồng bay” khép lại với màn bắn pháo hoa rực rỡ.

Nói về ý nghĩa của chương trình này, nhà văn Nguyễn Khắc Phục, tác giả kịch bản cho biết: “Chương trình văn hoá nghệ thuật đặc biệt chủ đề Thăng Long - Hà Nội - thành phố rồng bay do khoảng 8000 diễn viên đến từ các đơn vị nghệ thuật, trường thể dục thể thao trong cả nước trình diễn. Nếu nhìn ở góc độ nghệ thuật thì chương trình này không có gì đặc biệt nhưng điều đọng lại với người xem là tình đoàn kết, gắn bó của mỗi người dân đất Việt. Thông điệp chính của đêm diễn mà những người thực hiên muốn gửi đến công chúng là tinh thần yêu nước, tình cảm, tình đồng chí của các thế hệ được tập hợp lại qua các màn đồng diễn tập thể. Thăng Long - Hà Nội gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Lịch sử Thăng Long là lịch sử thu nhỏ của Tổ quốc Việt Nam, những biến cố của đất nước đều gắn liền với Hà Nội. Vì vậy, chương trình đã khắc hoạ những mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc. Tôi nghĩ từ những sáng tạo của cá nhân, qua sự dàn dựng của một tập thể, chương trình mang một tầm vóc to lớn”.

Theo QDND

Những pho tượng bảo vật chùa Bút Tháp

posted May 17, 2012, 7:35 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:35 AM ]

Đến với chùa chiền xứ Bắc Ninh, không thể không nói đến chùa Bút Tháp, ngôi chùa mà theo tôi là đẹp nhất xứ Kinh Bắc. Chùa giữ nguyên vẹn nét đẹp cổ xưa, mà vẻ đẹp ấy chỉ khi đến tận nơi mới cảm nhận hết được.

Một trong những điều quan trọng nhất khiến ngôi chùa đẹp là do chùa chưa bị tu sửa, làm mới một cách hời hợt.

Đến chùa Bút Tháp mà tĩnh tại chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những pho tượng, rồi ra vườn ngước nhìn ngọn tháp Bảo Nghiêm sừng sững in dấu lên nền trời xanh thẳm, trong lòng cứ bổi hổi bồi hồi ngẫm nghĩ về một thời xưa cũ trên đất Bắc.

Mọi người đến chùa Bút Tháp hầu như đều theo lối cổng chính. Đã ai vào chùa theo lối từ trên đê chưa nhỉ? Đi lang thang trên đê gió sông Đuống mát rượi vi vu rặng tre, thấy hai ngọn tháp sau chùa thì lao xe xuống, để xe bên cạnh vườn chùa, rồi lúc về đi xe ngược ra cổng trước.

Chùa Bút Tháp có cấu trúc thành nhiều tòa, ngăn cách nhau bởi những khoảng trống lộ thiên, chứ không phải kiểu nội công ngoại quốc liền tòa thông thường. Từ ngoài cổng là tam quan, gác chuông, tiền đường, thiêu hương (mà rất nhiều nơi viết sai là thiên hương, thiện hương, thiện hướng), thượng điện, am Tích Thiện, hậu điện, bao quanh là các hành lang, giải vũ.

Như mọi ngôi chùa thông thường khác, tòa tiền đường có bày tượng Cửu Long, Già Lam ở giữa, tượng Hộ pháp hai bên. Hai pho Hộ pháp khá lớn nhưng tòa Cửu Long thì nhỏ, không đặc sắc. Tâm điểm của chùa Bút Tháp là pho tượng cổ Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đẹp nhất Việt Nam được tạc từ 350 năm trước.

Lần nào đến đây tôi cũng không thể không dành thời gian ngắm nhìn pho tượng tuyệt đẹp này. Dù thời gian đã làm tróc lớp sơn, thếp vàng trên tượng nhưng không làm mất đi sự duyên dáng của từng cánh tay, trên nét mặt thanh thản của Phật bà, của vầng hào quang tạo bởi nghìn cánh tay và nghìn con mắt. Đây là hiện thân của sự thấu hiểu nỗi khổ và cứu độ chúng sinh trong Phật pháp.

Pho tượng có 42 cánh tay lớn và 958 cánh tay nhỏ. Có nơi nói rằng chỉ có hơn 700 tay nhỏ. Riêng tôi dù không đếm cũng luôn tin rằng phải có đủ 1.000 cánh tay. Đã làm được một kiệt tác thế này vì lẽ gì không thể làm đủ nghìn tay cho đúng chữ "Thiên thủ thiên nhãn" ?

Pho Quan Âm thiên thủ thiên nhãn được gọi là "Tập đại thành của nền điêu khắc Việt Nam", vì dường như hội tụ đủ cả trời đất. Đại Bồ Tát ngồi trên tòa sen do một con rồng đỡ lên từ mặt biển nổi sóng, sâu bên dưới là bốn bức tượng nhỏ tượng trưng cho tầng địa ngục. Giữa lòng đức Bồ Tát là hình tượng mặt trăng tròn vẹn, hai tay chắp trước ngực thể hiện hạnh nguyện vô lượng. Ngang hai bên mặt chính của tượng là hai mặt khác, tượng trưng cho quá khứ, tương lai. Phía trên đầu là các pho tượng phật ngồi cao dần, và trên cùng là Phật A Di Đà, đức Phật của cõi Tây Phương cực lạc.

Một trong những vẻ đẹp riêng của pho tượng là các cánh tay lớn hoàn toàn trong tư thế tự do thanh thoát. Thường những pho tượng thế này thì các tay lớn sẽ cầm các pháp khí như kim cương chử, vòng, chuỗi hạt, hạt châu.... Nhưng ở đây tay tượng hoàn toàn thoải mái với những động tác mềm mại. Những cánh tay tỏa ra sau lưng như vầng hào quang rộng mở, trong mỗi lòng bàn tay có một con mắt.

Tôi đọc trên mạng có tác giả viết con chim trên cùng là chim thiên đường. Điều này thật lạ. Vì trong Phật giáo không thấy có hình tượng thiên đường bao giờ, chứ đừng nói đến chim thiên đường. Chỉ có con đại khổng tước xòe cánh che cho Đức Phật nên một số tranh tượng có con khổng tước này. Phải chăng nên gọi con chim trên đỉnh kia là khổng tước thì đúng hơn?

Toàn bộ tòa thượng điện của chùa Bút Tháp là một bộ sưu tập sống động của các pho tượng Phật, Bồ tát, La Hán với nhiều kích cỡ, dáng điệu. Những nghệ nhân xưa đã dành hết tâm trí, sức lực, lòng thành kính và sự sáng tạo vào đây, khiến mỗi pho tượng đều có thần khí riêng.

Như những ngôi chùa đất Bắc khác, mái chùa không cao, cửa điện không rộng, khiến người ta phải cúi mình, nhấc chân cẩn thận trong từng bước đi, cử chỉ, ánh mắt, lời nói. Đây là cõi linh thiêng bí mật, cũ kỹ nhưng tâm linh, xuống màu tàn sắc nhưng thâm sâu vô lượng. Bên cạnh tuyệt tác Quân Âm nghìn mắt nghìn tay, những pho tượng khác trong chùa cũng là những tác phẩm rất giá trị.

Pho tượng tạc một vị sư Thiên Trúc với đặc trưng là mái tóc xoắn tròn, dáng vẻ khắc khổ nhưng an định. Pho tượng đại diện cho các vị tổ sư Phật giáo từng đến Việt Nam từ hai hướng: tây sang (Tây thiên), Trung Hoa đến (Đông độ).

Xét về tạo hình pho tượng này cũng giá trị không kém pho Phật bà, dù có thể công sức tạo dựng không bằng. Có thể thấy xa xa là pho tượng bà quận chúa - hoàng hậu - thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, con gái của Thanh đô vương Trịnh Tráng, hoàng hậu của vua Lê Thần Tông.

Hai mẹ con là những người có công lớn trong việc trùng tu chùa và cũng về tu ở đây. Dựa vào pho tượng này có thể hình dung khá rõ về trang phục hoàng tộc thời Hậu Lê ra sao.

Tượng ở chùa Bút Tháp còn một điều đặc biệt là hai bộ Tam Thế và Tam Thân. Ở tất cả  chùa tôi từng đến và xem, chưa ở đâu có đủ cả hai bộ này. Thường chỉ có một bộ Tam thế Phật, rồi đến bộ Tam tôn, Tam thánh, Tam tổ chứ không có Tam thân Phật. Tam thế Phật là quá khứ, hiện tại, vị lai.

CHITTO

Theo Tuoi Tre Online

Du lịch đồng quê dưới chân núi Tản

posted May 17, 2012, 7:28 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:28 AM ]

Đó là ý tưởng và mong muốn của tiến sĩ Ngô Kiều Oanh (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), một phụ nữ từng có nhiều năm nghiên cứu về tiềm năng của rừng núi Ba Vì và cũng là người góp phần không nhỏ vào sự phát triển của vùng du lịch này.

Năm 1996, trước nguy cơ một gia đình dân tộc Mường định dỡ bỏ ngôi nhà sàn cổ còn lại duy nhất ở xã miền núi Vân Hòa (Ba Vì), tiến sĩ Ngô Kiều Oanh quyết định mua lại ngôi nhà với giá cao nhằm bảo tồn, gìn giữ nét văn hóa dân tộc Mường, đồng thời cũng đầu tư xây dựng cho mình một trang trại riêng trên diện tích hơn 3ha đất vùng đồi gò. Từ đó, ý tưởng xây dựng một khu du lịch thiên nhiên gắn liền với làng xã, đồng quê dưới chân núi Ba Vì đã hình thành trong con người đầy nhiệt huyết ấy.

TS Ngô Kiều Oanh cho biết  Ba Vì là vùng đất tốt, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, du lịch đồng quê với những vùng sinh thái vườn rừng, đồi chè, nương lúa… rất nên thơ. Nơi đây còn nổi tiếng với đặc sản vật như sữa tươi Ba Vì, mật ong rừng, gà đồi, dê, cừu… và nhiều cây thuốc nam quý có tác dụng tốt cho sức khoẻ, được nhiều du khách ưa thích. Ngoài ra, vùng Ba Vì còn có nguồn nước khoáng thiên nhiên quý, dễ khai thác là thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái.

Nằm cạnh tỉnh lộ 87 (thuộc xã Vân Hòa, Ba Vì), cách Hà Nội hơn 50km về phía tây, “Trang trại Đồng quê” của nữ tiến sĩ Ngô Kiều Oanh hiện lên trong làn mây lãng đãng bay bên sườn núi. Với khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, đây sẽ là điểm đến thích hợp cho những ngày nghỉ cuối tuần hoặc các cuộc trao đổi theo nhóm.

Tại đây du khách không chỉ được nghỉ ngơi, ăn uống như đang ở nhà mình, mà còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ruộng bậc thang trong mùa lúa chín, hình ảnh những cô gái dân tộc Mường trên đường đi làm đồng và những đàn bò sữa trên đồng cỏ hay trong trang trại gia đình. Điều thú vị là với mô hình du lịch đồng quê, du khách sẽ được “hai cùng” với người nông dân, biết cách vắt sữa bò, cách làm rượu mật ong và tận mắt trông thấy những vật nuôi trong trang trại người dân.

Bên cạnh đó, du khách còn được hít thở không khí trong lành của rừng cây hoa lá, được thăm vườn đồi bạt ngàn của mùa trái ngọt, thả hồn trong vườn hoa, cây trái của các trang trại liền kề khác. Có thể nói khu du lịch theo kiểu “Trang trại đồng quê” của tiến sĩ Ngô Kiều Oanh là trung tâm của sáu điểm du lịch nổi tiếng của Ba Vì như Khoang Xanh, Thác Đa, Ao Vua, Thiên Sơn Suối Ngà, khu K9, nước khoáng nóng Thuần Mỹ…

Trong những ngày nghỉ cuối tuần, một nhóm gia đình, bạn bè thân thiết có thể chọn đây làm nơi thư giãn, nghỉ ngơi và bắt đầu cuộc hành trình đến các điểm du lịch của Ba Vì, bán kính tới các điểm du lịch này chỉ 10-12km. Sau một ngày đi tham quan, vui chơi, du khách được thư giãn trong khung cảnh nên thơ, yên tĩnh bên ngôi nhà sàn cổ và được thưởng thức các món ăn đặc sản của vùng núi Ba Vì với chất lượng thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh.

Tiếng chim hót líu lo buổi ban mai, tiếng ve râm ran chào buổi sáng, rồi tiếng nước suối chảy róc rách suốt ngày đêm như bản nhạc du dương trầm lắng, giúp du khách có cảm giác như đang sống giữa thiên nhiên hoang dã. Khi ánh mặt trời chiếu xuống, du khách có thể dạo quanh rừng trúc trong khu du lịch trên từng bậc thang bằng đá tự nhiên, hoặc ngồi thư giãn bên chiếc xích đu cạnh hồ bán nguyệt ngắm cá vàng lượn quanh. Mỗi khi khách đến thả mồi là đàn cá lại nhao đến nom rất vui mắt!

Cứ mỗi chiều thứ sáu bà Ngô Kiều Oanh cùng con gái lại lên khu du lịch của gia đình để trồng rau, làm cỏ, tiếp tục thực hiện mô hình du lịch đồng quê của mình. Cô con gái Ngô Hoàng Kiều Nga hiện đang nghiên cứu các mô hình du lịch đồng quê ở một số nước phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật... để bổ sung kiến thức và phục vụ phát triển ý tưởng của mẹ. Nơi đây sẽ là văn phòng du lịch đồng quê trong vùng thời gian tới.

Sau một ngày tham quan và trải nghiệm ở khu du lịch của nữ tiến sĩ Ngô Kiều Oanh, khi trở về Hà Nội tôi không quên chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp về khu du lịch mới lạ này. Tháng 8-2008, thời điểm Ba Vì nói riêng và Hà Tây nói chung đã chính thức sáp nhập vào Hà Nội, cũng là lúc khu du lịch này bắt đầu mở cửa đón du khách theo từng nhóm nhỏ.

Việc hình thành điểm du lịch mới dưới chân núi Tản sẽ góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch cho Ba Vì, giúp du khách có thêm lựa chọn điểm đến nghỉ ngơi, thư giãn cho mình, gia đình, bạn bè sau những giờ lao động, làm việc và học tập căng thẳng...

Theo QUANH ANH - Hà Nội Mới

Ba Vì: hai nửa thanh bình

posted May 17, 2012, 7:19 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:19 AM ]

Chiều, xe chuyển bánh về Hà Nội, chúng tôi vẫn cố ngoảnh đầu nhìn lại màu xanh của vùng đất Ba Vì huyền thoại. Nơi ấy như hai nửa thế giới: một thế giới mộng mơ, yên bình và một thế giới hùng vĩ, dữ dội.

Đất Ba Vì huyền thoại chào đón chúng tôi với nắng nhẹ, sương mù, những con sông dòng suối và những đỉnh núi cao ngút trời, bạt ngàn cây cối. Thiên nhiên hào phóng đã ban tặng nơi này một hệ thống cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp với nhiều danh lam thắng cảnh gắn liền truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh”.

Giữa vùng sơn thủy hữu tình nổi lên các địa danh Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Mơ, Thác Ngà, vườn quốc gia Ba Vì, hồ Tiên Sa, rừng nguyên sinh Bằng Tạ, đồi cò Ngọc Nhị, suối khoáng nóng Thuần Mỹ…

Nhưng ấn tượng với chúng tôi nhất là cuộc sống thanh bình, mộng mơ của vùng đất xứ Đoài. Chưa cần đi hết những địa danh nổi tiếng mà chỉ men theo những con đường quanh co, uốn lượn như những dải lụa thắm, ta có thể bắt gặp những ngôi nhà sàn, những chú bò sữa, những đồi thông bạt ngàn màu xanh và những bông hoa, cỏ dại rực rỡ khoe sắc.

Ta thênh thang bước đi trong màu sương phủ trắng núi đồi và trời đất. Lắng tai nghe những âm thanh của núi rừng đại ngàn: tiếng chim hót ríu rít, tiếng côn trùng, tiếng vượn hú, tiếng chân người đệm trên cây cỏ… Cuộc sống dưới chân núi Ba Vì cuốn hút ta vào một thế giới mộng mơ, êm đềm. Nơi ta có thể thảnh thơi trút bỏ những lo âu, sầu não vào màu xanh của miền sơn cước.

Với những du khách ưa mạo hiểm thì việc chinh phục dãy núi Ba Vì là lựa chọn sáng suốt. Nơi đây có ba đỉnh núi chính là đỉnh Vua (cao 1.296m so với mực nước biển), đỉnh Tản Viên (1.281m) và đỉnh Ngọc Hoa (1.120m).

Muốn lên đến đỉnh, du khách phải đi qua một chặng đường dài 14km (tính từ cổng vườn quốc gia Ba Vì) đến một bãi nhỏ có thể để ôtô. Từ đây ta mới có thể đi tiếp lên đỉnh Tản Viên và đỉnh Vua (hai đỉnh núi cao nhất trong dãy Ba Vì).

Đường lên đỉnh núi nay đã được trải nhựa bằng phẳng, lại được các cô lao công quét dọn thường xuyên nên khá sạch sẽ. Mang theo một chai nước, một mẩu bánh và chiếc máy ảnh, chúng tôi đã sẵn sàng bước vào hành trình chinh phục đỉnh Ba Vì.

Trời đang cuối thu nên khí hậu khá dễ chịu. Con đường lên núi như hút lấy chân người. Nắng như dát vàng cả đường đi và phía dưới là những cánh đồng màu mỡ ẩn hiện trong sương. Hồ Tiên Sa nhìn từ trên cao trông như một chiếc gương đồng được trang trí bởi những biệt thự nhỏ xinh soi mình bên dòng nước. Những tán lá đã ngả sắc vàng mịn, rơi lả tả xuống đường.

Đi được khoảng 7km thì đến mốc 400m (mốc độ cao so với mực nước biển). Nơi đây địa thế khá bằng phẳng và là nơi lý tưởng để xây dựng biệt thự, bể bơi, khu nghỉ dưỡng cao cấp và cũng là nơi du khách có thể nghỉ chân.

Nhưng chính địa thế bằng phẳng ấy, cái cảm giác nghỉ ngơi ấy lại làm chùn lòng biết bao du khách. Và nếu chỉ dừng ở đây thì thật sự là một điều đáng tiếc vì vẫn còn rất nhiều điều thú vị đang chờ ở phía trước.

Qua mốc 400m, Ba Vì hiện lên với một không gian khác hẳn. Không còn ánh nắng chan hòa, không còn những cây bằng lăng hai bên đường đi, tất cả đã nhường chỗ cho rừng, cho sự nguyên sơ đến hoang dại.

Rừng già trầm mặc và lặng im. Cái ồn ã của ngày thường và tiếng cười nói của khách du lịch hầu như không còn. Cánh rừng hun hút như muốn nuốt chửng khách bộ hành. Sương mù trở nên dày đặc và con người cũng thấy mình nhạt nhòa hơn.

Càng lên cao cảnh càng đẹp và con người có cảm giác càng tiến gần đến bản ngã của chính mình. Rừng tự nhiên, con người cũng tự nhiên hơn. Và khi cả khu rừng mênh mông chỉ còn vài người nhỏ bé thì bạn có thể thấy yêu quý những người bạn của mình hơn, muốn chia sẻ nhiều hơn những điều chưa nói giữa đô thành khói bụi. Thậm chí một chiếc xe máy vút qua cũng có thể làm lòng ta ấm lại.

Vượt qua những lúc tưởng chừng như không thể bước thêm được nữa, vượt qua cái cảm giác sợ hãi khi bị vắt rừng hỏi thăm, chúng tôi đã lên đến trạm nghỉ cuối cùng mà lòng vui như mở hội. Những tiếng hú, tiếng hét vang lên dữ dội khi chiến thắng được chính mình.

Cảnh non sông hùng vĩ hiện ra trước mắt. Những ngọn núi chọc trời cũng nằm khiêm nhường như những mô đất con con. Cả một vùng đồng bằng thấp thoáng trong sương như thiếu nữ e ấp trong chiếc khăn voan giữa buổi chiều gió lạnh.

Nghỉ chân một lát, chúng tôi leo lên 500 bậc đá để lên đền Thượng thờ thánh Tản Viên. Tuy ngôi đền cũ không còn nhưng sự uy nghiêm, linh thiêng thì chưa bao giờ mất. Những cơn gió lạnh đến se lòng cùng núi non trước mắt như đưa mỗi người trở lại với chính mình, trở về với nguồn cội của mình.

Từ trạm nghỉ chân đi gần 800 bậc đá nữa là đến đền thờ Bác Hồ trên đỉnh núi Vua, đỉnh cao nhất của dãy Ba Vì. Và trong những giây phút hiếm hoi con người được trở lại với chính mình này, ngôi đền hiện ra thật đơn sơ và gần gũi.

Bước xuống núi khi trời đã ngả sang chiều, những con người mệt mỏi nay đã tung tăng nhảy chân sáo. Rừng sâu không còn là điều đáng sợ, rừng đã ở trong ta, rừng đã là bạn ta rồi.

TIẾN THÀNH - VIỆT HÙNG

Theo Tuoi Tre Online

Hà Nội - "thành phố đậm chất châu Á nhất"

posted May 17, 2012, 7:19 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:19 AM ]

Ron Emmons, đồng tác giả cuốn sách hướng dẫn du lịch Đông Nam Á của Nhà xuất bản du lịch có uy tín Frommer của Mỹ, vừa bình chọn 12 điểm đến hấp dẫn trong năm 2010, đã đưa ra nhận xét "Hà Nội là thành phố đậm chất châu Á nhất".

Trong 12 điểm đến hấp dẫn đó, thủ đô Hà Nội của Việt Nam xếp hàng thứ ba sau Tuynidi và Copenhagen (Đan Mạch).

Lý do để Frommer chọn Hà Nội là một trong những điểm đến hàng đầu của năm 2010 vì thủ đô 1.000 năm tuổi là một thành phố phát triển mạnh với phong cách cổ điển kiểu Pháp.

Là một trung tâm văn hóa có nhiều đền, chùa và di tích lịch sử, Hà Nội sẽ mang lại rất nhiều điều hấp dẫn cho du khách muốn có sự trải nghiệm về châu Á một cách xác thực, nhưng không bị gò bó.

Cuốn sách của Frommer giới thiệu Hà Nội là nơi có phong cách ẩm thực đầy màu sắc, với những món ăn tuyệt vời của các hàng quán bên phố cũng như trong những nhà hàng sang trọng.

Du khách sẽ không thất vọng khi đến Hà Nội sẽ được khám phá cuộc sống ban đêm ở khu phố cổ và khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Các tác phẩm nghệ thuật đương đại của những nghệ sĩ trẻ được trưng bày dọc theo phố Tràng Tiền. Nếu là người thích mua sắm du khách có thể tìm đến những cửa hàng trên phố Nhà Thờ hoặc ở chợ Hàng Da hay chợ Đồng Xuân, nơi có chợ đêm vào những ngày cuối tuần.

Sách hướng dẫn du lịch của nhà xuất bản Frommer thuộc loại bán chạy nhất ở Mỹ, các độc giả của Frommer cũng bình chọn Paris là địa điểm ưa chuộng nhất cho năm 2010.

Theo TTXVN/Vietnam+

Về Đông Anh trẩy hội Cổ Loa

posted May 17, 2012, 7:16 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:16 AM ]

Đã thành thông lệ, mồng 6 tháng giêng (âm lịch), người người lại nô nức về trẩy hội đền Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội).

Từ sáng sớm, khắp đường làng ngõ xóm Cổ Loa đã sặc sỡ màu cờ hội, áo hội. Mở đầu là đám rước Văn với 5 lá cờ ngũ hành, phường bát âm, giá văn tế đặt trong kiệu Long đình, có lọng, tàn che. Sau đám rước Văn là đến nghi thức tế lễ và đám rước thần của tám làng (gọi là Bát Xã) gồm: Ðài Bi, Sàn Dã, Cầu Cả, Mạch Tràng, Văn Thượng, Thư Cưu, Cổ Loa, Xép...

Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, tại các khu vực quanh đền Cổ Loa còn diễn ra nhiều trò chơi như đu tiên, đánh vật hát chèo, bắn cung nỏ, cờ người, múa rối nước...

Hội Cổ Loa kéo dài cho tới  ngày 16 tháng giêng mới làm lễ tế tạ trời đất, kết thúc lễ hội. Bởi vậy, một chuyến du xuân về đền Cổ Loa trong những ngày này chắc chắn  sẽ đem đến cho du khách những điều thú vị.

Lễ hội Cổ Loa diễn ra 10 ngày (từ ngày 6 đến 16 tháng giêng âm lịch) để tưởng nhớ Thục Phán An Dương Vương, người đã được vua Hùng thứ 18 nhường ngôi. An Dương Vương  đặt tên nước là Âu Lạc và đóng đô ở Cổ Loa. Lễ hội gắn liền với sự tích truyền thuyết nỏ thần và câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.


TIẾN THÀNH

Theo Tuoi Tre Online

Tour ngắn tham quan Hà Nội

posted May 17, 2012, 7:04 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 7:04 AM ]

Tùy thuộc thời gian và địa điểm khách sạn ở tại Hà Nội, bạn có thể chọn những tour khám phá nội thành theo sở thích riêng. Với câu hỏi trên, chúng tôi nghĩ bạn chưa ra Hà Hội lần nào nên có thể đưa ra một vài gợi ý như:

* Tour khám phá quanh Hồ Gươm: gồm các điểm dừng chân thú vị như quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khu vực đền Bà Kiệu, đền Ngọc Sơn, tượng đài Lý Thái Tổ, Bắc Bộ phủ, Nhà hát lớn, Bảo tàng lịch sử, phố Tràng Tiền, các tuyến phố nhỏ ngay sát hồ Gươm, khu vực nhà thờ Lớn, chùa Lý Quốc Sư…

Bạn có thể đi bộ nhẩn nha ngắm phố phường Hà Nội và quan sát những góc cuộc sống bình dị của thủ đô ngàn năm văn hiến.

* Tour khám phá phố cổ: Hà Nội và những tuyến phố cổ ngang dọc đã trở thành tuyến tham quan phục vụ khách du lịch nổi tiếng. Bạn có thể mua vé xe điện tại bến xe điện trên đường Đinh Tiên Hoàng bên Hồ Gươm (đối diện rạp múa rối Thăng Long) với chi phí 15.000 đồng/khách.

Xe điện sẽ chạy qua 28 tuyến phố cổ theo một hành trình khép kín, bạn sẽ  có cơ hội ngắm cảnh và tham quan các tuyến phố như Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, Hàng Đường, Hàng Chiếu, Hàng Buồm, Hàng Lược, Hàng Khay và nhiều tuyến phố khác.

* Tour khám phá quanh Hồ Tây: Tuyến tham quan này nên di chuyển bằng xe máy hoặc xe taxi, ví dụ đi một con đường bao quanh hồ Tây, ghé qua đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ… hoặc qua các bến Hàn Quốc, Nhật Bản rất nổi tiếng trong giới trẻ Hà Nội, tham quan làng hoa Tứ Liên, Quảng Bá, Nghi Tàm...

* Tour khám phá khu vực lăng Bác Hồ: có thể kết hợp di chuyển bằng xe cộ và đi bộ. Các điểm tham quan như: lăng Bác, chùa Một Cột, khu Vườn Hồng, tượng đài Bắc Sơn, Đoan Môn, phố Hoàng Diệu, cột cờ Hà Nội, Bảo tàng Quân đội, cách chưa đến 1km là khu vực Văn Miếu, Quốc Tử giám.

Các tuyến tham quan ngoại thành Hà nội

Do bạn muốn ngắm cảnh làng mạc, nông thôn và những vẻ đẹp cổ kính trong chương trình tour một ngày, điều này khá dễ dàng nếu bạn mua tour từ các công ty du lịch lữ hành quanh phố cổ Hà Nội, thậm chí tự bạn có thể thiết kế và thực hiện tour theo cách riêng của mình. Các tuyến gợi ý của chúng tôi dựa trên di chuyển bằng xe máy hoặc ôtô trong giới hạn dưới 100km đường.

* Tour khám phá làng nghề, đô thị cổ trên bờ đê Sông Hồng: xuất phát từ cầu Chương Dương, thăm làng gốm Bát Tràng, và đô thị cổ Phố Hiến, thăm chùa Chuông, văn miếu Hưng Yên.

* Tour  về với Kinh Bắc: thăm các ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh như chùa Bút Tháp, chùa Keo, làng tranh Đông Hồ, chùa Phật Tích, Đền Đô, đình làng Đình Bảng. Kết hợp thuận đường có thể ghé thăm Làng Nôm, một ngôi làng cổ của nông thôn miền Bắc.

* Tour Hà Tây - Hà Nội: Bạn có thể tham quan làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, làng miến Cự Đà và tiếp tục hành trình khám phá các ngôi chùa cổ ở Hà Tây như chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình So... Các di tích này nằm trên tuyến văn hóa phía tây thủ đô, nơi bạn thật sự cảm nhận sự yên bình của nông thôn Bắc bộ.

* Tour Sơn Tây - làng cổ Đường Lâm: Theo đường 32 lên tham quan thành cổ Sơn Tây và làng cổ có hai vua Đường Lâm nổi tiếng với di tích đình Mông Phụ, đền thờ vua Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền và những ngôi nhà cổ bằng gạch đá ong ấn tượng.

Chúc bạn có những tour khám phá về Hà Nội và các vùng lân cận thành công.

THÁI ANH

Theo Tuoi Tre Online

Trở lại Phố Hiến

posted May 17, 2012, 5:55 AM by An Bui   [ updated May 17, 2012, 5:55 AM ]

Thời gian đã trôi qua, Phố Hiến vang bóng một thời như dòng nước Hồng Hà không bao giờ dừng lại. Không nhiều người nay được biết Phố Hiến từng là thương cảng quốc tế lớn nhất, nhì Việt Nam, thậm chí cả khu vực. Nhiều thương thuyền lớn từ phương Tây, Nhật Bản, Trung Quốc đã thả neo ở đây. Nhiều công ty hàng hải nổi danh của Hà Lan, Anh cũng từng mở thương điếm bên bến sông Hồng này…

Tìm lại phố xưa

Một sáng xuân 2009, chúng tôi rời Hà Nội, xuôi sông Hồng. Tàu máy lạch xạch chậm buồn, chạy vòng qua các cồn bãi. Men theo đường đê ven sông, chúng tôi đi tìm lại thương cảng xưa. Qua các huyện Văn Giang, Khoái Châu, những gốc nhãn lồng nức tiếng đặc sản Hưng Yên đã mơn mởn cành xanh. Nhiều gốc nhãn cổ thụ đã trên 200 - 300 năm tuổi, được trồng ở ven đê để vừa chắn sóng dữ vừa được bóng râm và trái ngọt cho dân làng hóng mát.

Các cụ già địa phương tin rằng nhãn dù cùng trồng trên bãi bồi sông Hồng, nhưng chỉ có ở Hưng Yên mới cho trái thơm ngọt nhất. Vì vậy mà xưa kia Hưng Yên đã nức tiếng là đất lành trồng nhãn quý tiến vua. Khi thương cảng Phố Hiến còn tấp nập, khách buôn đã có câu ca dao truyền miệng “Tháng sáu buôn nhãn bán trăm”. Đây là mùa nhãn lồng Hưng Yên kết tinh hương vị thơm ngọt nhất để thương khách tìm mua.

Thị xã Hưng Yên ôm trong mình Phố Hiến cổ kính. Ngoài ngôi chợ cùng tên Phố Hiến, thương cảng một thời còn rõ rệt nhất chính là con đường được đặt tên Phố Hiến, thuộc phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên. Đường nhỏ, chỉ dài vài trăm mét. Cuối đường là những nhà vườn ẩn khuất trong các cội nhãn già của xã Hồng Nam.

Chùa Hiến (còn có tên Thiên Ứng Tự) tọa lạc trầm mặc bên đường. Sân chùa không bóng người. Gốc nhãn sần sùi ven tường được gắn bảng “cây nhãn tổ”, nhưng chỉ là một nhánh con của gốc nhãn hàng trăm năm tuổi đã mục ruỗng theo thời gian. Các nhà sư xưa thường chọn những trái ngon nhất trên cây nhãn này để cúng Phật và tiến vua.

Nắng trưa xiên qua kẽ lá như rắc những đóa hoa vô thường lung linh trên sân chùa. Vị sư già ngồi trầm mặc kể, chùa được xây dựng vào thời Trần. Thiên Ứng cũng là niên hiệu vua Trần Thái Tông (1232-1250). Giữa thượng điện, tượng phật Quan Âm Nam Hải từ bi dõi mắt ra thương cảng Phố Hiến là chỗ dựa tâm linh cho thương khách sống đời may rủi trên sông nước.

Hai tấm bia đá vẫn mờ mờ dòng chữ nói về việc trùng tu chùa và quang cảnh Phố Hiến: “Phố Hiến Nam nổi tiếng là nơi đô hội tiểu Tràng An…”. Bia còn ghi rõ việc góp công đức trùng tu chùa của 481 người đến từ nhiều miền đất khác nhau, trong đó có 56 người Hoa buôn bán thường xuyên ở thương cảng này.

Rời cổ tự rêu phong, chúng tôi lên cầu Yên Lệnh, dõi mắt nhìn toàn cảnh thương cảng xưa. Trên đoạn sông bên mạn cầu Hưng Yên xuôi về Thái Bình, bến cảng Phố Hiến đã bị bồi lấp ra ngoài đến hai, ba cây số. Trên mặt sông gần bờ xưa, phù sa đã bồi thành đất thịt. Nhiều xác nhà đã nối tiếp nhau chứng tỏ bến cảng này bị bồi lấp từ lâu lắm rồi. Xa xa, ngoài mép bãi bồi, vị trí mà thuở thương cảng Phố Hiến còn hưng thịnh chắc phải là giữa lòng sông, nay thành đất phù sa màu mỡ để canh tác nông nghiệp…

Nghe nói con đường Nam Tiến ở ngoài đê trên bãi bồi phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, hàng trăm năm trước đã in bao dấu chân thương khách sông Hồng. Ngay đầu đường có một ngôi cổ tự với cái tên lạ là Nẻ Độ. Đền xưa thờ hai bà Chúa bờ Hà Nam. Khi bên đó bị sạt lở, người ta mới cung thỉnh qua sông Hồng để thờ bên bờ Hưng Yên.

Bà Nguyễn Thị Bé, 80 tuổi, cư dân gần trọn đời sống bên con đường Nam Tiến cũng không thể biết phần sông biến mất tự khi nào. Bà chỉ nhớ mình đã lẫm chẫm những bước đầu đời trên lối đất phù sa êm mịn. Rặng nhãn cổ thụ trước căn nhà ngoài đê của bà đã cho bao lứa trái ngọt kể từ khi bà biết trèo hái. Phần bãi bồi trước cửa nhà bà xưa nay chỉ canh tác mỗi vụ chiêm, còn vụ mùa thường bị nước sông Hồng đe dọa. Vụ lụt cuối năm 2008 vừa rồi, toàn bộ bãi bồi bị nhấn chìm và nước dâng mấp mí sân hè những nhà ngoài đê...

Thương cảng quốc tế

Thương cảng Phố Hiến vang bóng một thời nay là dải bãi bồi từ thôn Đằng Châu (xã Lam Sơn) đến thôn Nễ Châu (phường Hồng Châu). Sử sách và ký ức truyền lưu bao đời người kể rằng vào thời hưng thịnh, thế kỷ XVII - XVIII, thương cảng này đã từng đón bao thuyền buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp và xứ Đàng Trong…

Thuở đó, Phố Hiến trải dài bờ tả ngạn sông Xích Đằng (tên địa phương của sông Hồng), có vị trí giao thương đường thủy thuận lợi. Từ vịnh Bắc Bộ, tàu bè có thể theo các sông Hồng, Thái Bình, Đáy để vào sâu trong đất liền, nhưng đều phải qua Phố Hiến mới đến được Hà Nội. Vì vậy, ngoài bán buôn, Phố Hiến còn là trạm hải quan.

Nhiều nhà hàng hải phương Tây đã vào Việt Nam theo ngã sông này, trong đó ông William Dampier kể cụ thể là đã quan sát Phố Hiến có khoảng 2.000 nóc nhà vào năm 1688. Còn Samuel Baron, con lai của một phụ nữ Việt và Giám đốc thương điếm Hà Lan Hendrik Baron ở Phố Hiến cũng đã khắc lên bia đá dòng chữ tưởng niệm “Baron 1680”. Về sau, Samuel Baron làm việc cho Công ty Đông Ấn (Compagnie des Indes Orientales) và ở Phố Hiến.

Phố Hiến là vùng đất trải nhiều biến động lịch sử. Thời các sứ quân, vùng này là lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ. Thời tiền Lê, nó là thực ấp của Lý Công Uẩn. Khi nhà Minh diệt Tống, nhiều Hoa kiều chạy sang Việt Nam. Một số người tị nạn ở dải đất bên bờ sông Hồng này và lập làng Hoa Dương. Năng khiếu buôn bán của họ đã góp phần biến nơi này thành phố buôn sầm uất.

Hiện nhiều học giả cho rằng tên Phố Hiến có thể xuất hiện vào cuối thế kỷ XV, khi vua Lê Thánh Tông (1460-1497) phân chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên. Mỗi thừa tuyên có ty hiến sát để giám sát, kể cả kiểm soát đường thủy. Có lẽ, vì ty hiến sát trên dải đất bờ sông này mà phố buôn được quen gọi là Phố Hiến.

Đến thế kỷ thứ XVII, thương cảng Phố Hiến ngày càng tấp nập tàu hàng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí miêu tả: “Cung cũ Hiến Nam ở địa phận xã Nhân Dục, huyện Kim Động là lỵ sở trấn Sơn Nam đời Lê. Phàm người nước ngoài đến buôn bán thì tụ tập ở đây gọi là Vạn Lai triều, phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp”.

Các thuyền mành bằng gỗ của Trung Quốc, Xiêm La và các nước châu Á khác có thể neo đậu sát bờ sông Hồng, còn thuyền châu Âu lớn thường neo ở vùng nước sâu giữa sông. Các thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở Phố Hiến như Thương điếm Anh (1672-1683), Thương điếm Hà Lan (1637-1700). Riêng thương điếm Hà Lan hiện diện đến 64 năm ở Phố Hiến, trải qua 13 đời giám đốc.

Nhật trình của Công ty Đông Ấn ghi lại rằng trong hơn 10 năm từ 1672-1683, có khoảng 30 chuyến tàu viễn dương phương Tây đến thương cảng Phố Hiến. Cụ thể, vào năm 1637, thương gia Hà Lan Karel Hartsinck giong thuyền tới Phố Hiến đã gặp nhiều tàu Bồ Đào Nha chở đầy tơ sống vào tận Thăng Long. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi rằng bến Xích Đằng ở mạn Bắc Phố Hiến bao gồm cả bốn bến đò Kệ Châu, Quan Xuyên, Nhân Dục và Phương Trà. Còn mạn Nam Phố Hiến có bến Nễ Châu, nơi mà tàu thuyền hạng nặng phương Tây thường neo đậu.

Chợ Phố Hiến ở trung tâm thị xã Hưng Yên bây giờ không rõ có phải nằm trên nền chợ xưa hay không? Thời hưng thịnh, Phố Hiến đã có những chợ rất lớn như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến, chợ Bảo Châu ở bến Nễ Châu. Phố phường sinh sống của người dân và thương buôn quây quanh các ngôi chợ này như Cựu đê thị (phường đê cũ), Ngoại đê thị (phường ngoài đê), Hà khẩu thị (phường cửa sông)… Ngoài ra, một số phường còn được đặt tên theo hàng buôn như Thuộc bì thị (phường thuộc da), Hàng chén thị (phường Hàng chén), Hoa lạp thị (phường nón hoa)...

Thời vàng son ở Phố Hiến, nơi bán buôn trù phú nhất là các phố phường của Hoa kiều. Thương khách Nhật cũng đến ở thương cảng này từ đầu thế kỷ XVII, chủ yếu để đổi bạc, đồng lấy tơ lụa. Sau khi Mạc phủ Tokugawa ban lệnh tỏa quốc, nhiều người quyết định ở lại Phố Hiến. Ngoài buôn bán, họ làm thêm nhiều nghề như hoa tiêu, phiên dịch, môi giới… Người Hà Lan, Bồ Đào Nha cũng đến Phố Hiến rất sớm.

Năm 1626, giáo sĩ Baldinotti đã đến Phố Hiến rồi vào Thăng Long, mở đầu làn sóng thương nhân Bồ Đào Nha đến đất này. Một số người Bồ Đào Nha còn sinh sống ở Phố Hiến trong đó nữ thương nhân Monica Dabada lấy chồng Pháp và rất giàu có. Người Pháp cũng theo sông Hồng đến Phố Hiến. Năm 1680, họ lập thương điếm ở thương cảng này cùng với các thương điếm Anh, Hà Lan. Vừa giao thương, người Pháp vừa truyền giáo và xây dựng nhiều công trình mà đến nay vẫn còn lưu dấu tích bên bờ sông Hồng...

Thời suy tàn

Khó biết được Phố Hiến bắt đầu suy tàn khi nào nhưng nhiều nguồn tin cho rằng vào cuối thế kỷ XVII, thương mại ở Phố Hiến đã suy thoái. Một trong những nguyên nhân là hệ thống đê điều sông Hồng ngày càng được hoàn thiện đã hạn chế phù sa chảy vào đồng ruộng, để nó tự bồi lắng trên chính lòng sông.

Bến cảng Phố Hiến cũng bị bồi lắng. Lòng sông nông dần và ngày càng bị kéo ra xa bờ làm việc bốc dỡ hàng hóa trở nên khó khăn. Ký ức của các cụ già trong thế kỷ XX này cũng chứng minh chuyện đó. Họ kể rằng bãi bồi gần cầu Yên Lệnh còn nhỏ, nhưng đến giờ đã phình dâng ngút ngàn tầm mắt.

Ngoài ra, các nước Nhật, Trung Quốc sau thời gian tỏa quốc đã mở cửa thông thương thoáng hơn, làm cho Phố Hiến bị cạnh tranh khốc liệt. Rồi những biến động chính trị - xã hội Việt Nam cũng làm Phố Hiến suy thoái. Kinh thành phát triển ở Huế cùng với cảng Thuận An, rồi những dòng Hoa kiều phải thay đổi nơi chốn kinh doanh trong các cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu làm cho Phố Hiến chìm vào quên lãng. Số ít thương nhân còn trụ lại phải chuyển từ bán buôn sang bán lẻ tại chỗ.

Chiều dần buông ở Phố Hiến, bên bờ sông Hồng, thoảng nghe như có tiếng thở dài đâu đây. Thương cảng thuở nào tấp nập tàu bè giờ đã xanh màu cây trái bởi phù sa sông Hồng. Hưng Yên nay không mạnh về thương mại, nhưng là tỉnh thuần nông đang từng bước công nghiệp hóa. Người xưa, cảnh cũ đã đổi thay. Chỉ có Hồng Hà vẫn lặng lẽ xuôi chảy làm chứng nhân bao thời cuộc thăng trầm…

Theo QUỐC VIỆT
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

1-10 of 18